Chủ Nhật, 16 tháng 4, 2017

Nghị luận xã hội về vấn đề học đi đôi với hành

Đề bài: Viết bài nghị luận bày tỏ ý kiến của mình về phương châm học đi đôi với hành. Bài làm văn của một học sinh lớp 11 trường THPT chuyên Lam Sơn – Thanh Hóa.
BÀI LÀM

Bàn về phương pháp học tập, xưa nay có rất nhiều ý kiến. Mỗi ý kiến đúc kết một kinh nghiệm quý báu góp phần rút ngắn khoảng cách trong hành trình chiếm lĩnh tri thức của nhân loại. Học đi đôi với hành là một trong những phương châm đó. Từ xưa tới nay, mối tương quan giữa học và hành được nhiều người quan tâm, bàn luận. Học quan trọng hơn hành hay hành quan trọng hơn học? Trước hết, chúng ta phải tìm hiểu xem học là gì? Hành là gì ?

Học là hoạt động tiếp thu những tri thức cơ bản của nhân loại đã được đúc kết qua mấy ngàn năm lịch sử. Chúng ta có thể học ở trường qua sự truyền thụ của thầy cô giáo; học ở bạn bè; tự học qua sách vở và thực tế đời sống. Mục đích của việc học là để làm giàu tri thức, nâng cao trình độ hiểu biết về nhiều mặt để có thể làm chủ bản thân, làm chủ công việc của mình, góp phần hữu ích vào việc xây dựng sự nghiệp riêng và sự nghiệp chung.

Hành là quá trình vận dụng những kiến thức đã tiếp thu được trong quá trình học vào thực tế công việc hằng ngày. Ví dụ như người thầy thuốc đem hiểu biết của mình học được ở trường Đại học Y Dược trong suốt sáu năm để vận dụng vào việc chữa bệnh cứu người. Những kiến trúc sư, kĩ sư xây dựng thiết kế và thi công bao công trình như nhà máy, bệnh viện, sân. bay, nhà ga, công viên, trường học… Những kĩ sư cơ khí chể tạo máy móc phục vụ sản xuất trong lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp… Nông dân áp dụng khoa học kĩ thuật vào chăn nuôi, trồng trọt để thu hoạch với năng suất cao… Đó là hành.

Học để hành, có nghĩa là phải học để làm cho tốt. Thực tế cho thấy có học vẫn hơn. Ông cha chúng ta đã khẳng định: Bất học bất tri lí, có nghĩa là không học thì không biết đâu là phải, là đúng. Người có học khác hẳn người vô học không phải chỉ ở chữ nghĩa mà còn ở nhiều thứ khác như trình độ nhận thức, khả năng ứng xử trong giao tiếp xã hội, khả năng giải quyết công việc trong những tình huống phức tạp… Mục đích của việc học là để làm cho mọi công việc được thực hiện với chất lượng và hiệu quả cao hơn. Nếu chúng ta học những lí thuyết dù cao siêu đến đâu mà không vận dụng được vào thực tế thì đó chỉ là lí thuyết suông, tốn thời gian, tiền bạc mà vô ích, giống như truyện ngụ ngôn ngày xưa kể về người đàn ông mất bao công phu tìm thầy học nghề giết rồng để rồi suốt đời chẳng tìm thấy một con rồng nào cả.

Ngược lại, hành mà không học thì không thể trôi chảy. Không có lí thuyết soi sáng, chúng ta sẽ gặp khó khăn trong công việc. Nếu ta chỉ làm việc theo thói quen và kinh nghiệm thì tiến trình làm việc sẽ chậm và hiệu quả không cao. Cách làm việc cũ kĩ, lạc hậu ấy chỉ thích hợp với những hình thức lao động giản đơn, không cần nhiều đến trí tuệ. Trong thời đại công nghệ khoa học kĩ thuật phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ như ngày nay thì cung cách làm việc ấy không còn phù hợp nữa.
Muốn đạt được hiệu quả cao trong công việc, con người phải được đào tạo bài bản, nghiêm túc, đến nơi đến chốn theo từng chuyên ngành và trong suốt quá trình làm việc vẫn phải học tập, học tập không ngừng. Nắm vững lí thuyết, chúng ta mới có thể làm được những công việc phức tạp và tránh được những sai lầm đáng tiếc. Lí thuyết dẫn đường cho thực hành; thực hành bổ sung, hoàn thiện cho lí thuyết… Vì thế chúng ta không thể coi nhẹ vai trò vô cùng quan trọng của việc học mà phải đánh giá đúng mức mối quan hệ hữu cơ khăng khít giữa học và hành.
Ngày nay, phương châm học đi đôi với hành luôn được đề cao trong các cấp học nhưng việc thực hiện thì còn nhiều hạn chế.
Khi nói học đi đôi với hành là chúng ta đề cập đến mối quan hệ giữa lí thuyết và thực tiễn, Học đi đôi với hành có ý nghĩa thực sự quan trọng. Để đạt được hiệu quả cao, người học nên biết cân bằng giữa lí thuyết và thực tiễn sao cho hài hòa, hợp lí. Giữa lí thuyết và thực hành có mối quan hệ như hai chân của một con người, thiếu một chân thì con người chẳng thể đứng vững. Như vậy, học với hành giúp chúng ta vừa chuyên sâu kiến thức lại vừa thông thạo, hoàn thiện kĩ năng làm việc.
Có thể nói Bác Hồ là tấm gương tiêu biểu cho phương châm học đi đôi với hành. Bác đã từng khẳng định: lí luận phải đi đôi thực tiễn, lí luận mà không có thực tiễn chỉ là lí thuyết suông. Bác biết rất nhiều ngoại ngữ và sử dụng thành thạo không chỉ trong giao tiếp mà còn viết văn, viết báo bằng ngoại ngữ.
Những tác phẩm văn xuôi bằng tiếng Pháp như: Con rồng tre, Những trò lố hay là Varen và Phan Bội Châu… Tập thơ Nhật kí trong tù và những bài thơ chữ Hán mà Bác sáng tác là kết quả của quá trình học tập, rèn luyện lâu dài.
Học đi đôi với hành có ý nghĩa quan trọng và thiết thực đối với các ngành nghề, các môn kĩ thuật. Thật đáng tiếc cho những ai chỉ giỏi lí thuyết sách vở mà phải bó tay trước thực tiễn sinh động và phong phú hằng ngày của cuộc sống.
Học đi đôi với hành không chỉ bó hẹp trong nhà trường, không chỉ là một cách học để nắm vững kiến thức mà còn là sự vận dụng có hiệu quả những kiến thức ấy khi ra ngoài xã hội. Những gì được học phải đem áp dụng vào cuộc sống, chứ không phải học để biết rồi bỏ đó. Rất nhiều học sinh đã được học những lời hay ý đẹp trong trường nhưng khi bước ra đời thì lại có những ngôn từ hành động không đẹp, thậm chí đáng chê trách. Hãy biến những tri thức, những bài học cuộc đời đầy ý nghĩa mà ta thâu nhận được từ sách vở thành hiện thực. Như vậy thì những kiến thức đó mới trở nên thật sự có ý nghĩa.
Học đi đôi với hành là một phương châm giáo dục đúng đắn và khoa học, đề cập đến một phạm vi khá rộng với những biểu hiện phong phú, đa dạng. Việc kết hợp giữa lí thuyết và thực hành có thể được tiến hành dưới nhiều hình thức khác nhau, ở những lĩnh vực khác nhau. Thông qua thực hành, người học nắm chắc lí thuyết hơn vì lí thuyết ấy được biến thành việc làm và được kiểm nghiệm trong thực tiễn.
Điều quan trọng nhất là làm sao đưa lí thuyết vào thực tiễn để được kiểm nghiệm, cụ thể hóa bằng những sản phẩm có thực. Chẳng hạn, khi học xong lí thuyết một kiểu bài tập làm văn, học sinh phải thực hành bằng một bài làm văn cụ thể. Đặc biệt đối với môn ngoại ngữ, học không thể tách rời với hành. Việc hiểu nghĩa từ sẽ có hiệu quả hơn nếu người học biết sử dụng từ thường xuyên trong bất cứ tình huống giao tiếp nào. Như vậy thì việc nhớ từ mới trở nên chính xác và bền lâu trong tâm trí người học. Nếu bạn chỉ chăm chú học thuộc các thì trong tiếng Anh, các cấu trúc ngữ pháp trong khung đóng sẵn, bạn sẽ khó nhớ và mau quên. Tuy nhiên, nếu đem lí thuyết ấy vận dụng vào thực tiễn nói hoặc viết, bạn sẽ nhớ lâu hơn rất nhiều. Một bài học của môn giáo dục công dân về tình bạn chúng ta chỉ nghe thoáng qua như một mớ lí thuyết giáo điều, thế nhưng nếu thầy, cô giáo cụ thể hóa những khái niệm gọi là chia sẻ, cảm thông, giúp đỡ, hi sinh… bằng thực tế cuộc sống quanh ta, chúng ta sẽ thấy bài học ấy cực kì sống động và giàu ý nghĩa.
Có người đã từng nói: Mọi lí thuyết đều màu xám, chỉ có cây đời mãi mãi xanh tươi. Tuy có phần cực đoan nhưng câu nói đó đã khẳng định đúng về giá trị của thực tiễn trong đời sống con người.
Quả thực, nếu học mà không có hành thì việc học chưa trọn vẹn. Lí thuyết mà không được đem ra thực hành thì đó chỉ là lí thuyết suông. Không có hành, người học dường như chỉ nắm lí thuyết một cách máy móc, nửa vời, dẫn đến kết quả là những kiến thức đó sẽ trở nên mơ hồ, không chắc chắn.
Một thực tế đáng buồn là từ trước đến nay, nhiều học sinh đã sai lầm trong cách học, dẫn đến hiệu quả không cao vì chỉ khư khư ôm lấy lí thuyết mà không chịu thực hành. Một phần do các bạn ấy chưa nắm được tầm quan trọng của phương châm học đi đôi với hành, một phần xuất phát từ tâm lí e ngại, lười hoạt động. Tuy nhiên, như trên đã nói, chúng ta phải biết kết hợp một cách hài hòa giữa lí thuyết và thực tiễn. Việc tuyệt đối hóa bất cứ một phương diện nào cũng sẽ phản tác dụng. Nếu quá đề cao lí thuyết, bạn sẽ rơi vào cách học máy móc, nặng nề, sách vở. Nếu thiếu những nền tảng lí thuyết cơ bản, bạn sẽ gặp nhiều khó khăn khi làm việc.
Học đi đôi với hành là kim chỉ nam cho mọi người trên con đường chiếm lĩnh đỉnh cao tri thức và tạo dựng sự nghiệp. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Mình rất quan tâm đến học và hành. Bác khẳng định: Học để hành, học với hành phải đi đôi. Học mà không hành thì học vô ích, hành mà không học thì hành không trôi chảy. Quan niệm trên là phương châm đúng đắn cho ngành giáo dục nước nhà nói chung và cho mỗi con người nói riêng.

Tham khảo bài nguyên mẫu tại đây :
Nghị luận xã hội về vấn đề học đi đôi với hành

Bài của giáo viên về đề: Phải chăng sống là tỏa sáng

“Phải chăng sống là tỏa sáng”
“Bạn có muốn tỏa sáng không?”Bao nhiêu người trong số chúng ta dám tự tin khẳng định rằng “CÓ!” ? Cuộc sống bộn bề, càng trưởng thành, phần nhiều chúng ta càng mong một đời an ổn: ngày  làm 8 tiếng, có của ăn của để, gia đình ấm êm, không ốm đau bệnh tật. Nhưng sâu thẳm trong thâm tâm mỗi con người, từ thuở ấu thơ, có lẽ luôn tồn tại một giấc mơ được ‘tỏa sáng”- giấc mơ mình làm được những điều vĩ đại, được cả thế giới biết đến và công nhận. Ta đang lớn - đã qua cái tuổi con nít mộng mơ nhưng đương căng đầy nhiệt huyết và hi vọng về những lí tưởng. Ta băn khoăn trong những bước đi đầu tiên trên con đường tương lai của chính mình. Phải chăng, sống là tỏa sáng?
Ánh hào quang trong suy nghĩ của trẻ thơ là những giấc mơ hồn nhiên và trong trẻo. Bước ra cuộc đời rộng lớn ngoài kia, ta hiểu “tỏa sáng” thực sự là khi ta bộc lộ được năng lực vượt trội của bản thân trong một lĩnh vực nào đó bằng những thành công vang dội, những cống hiến, đóng góp được cả xã hội công nhận, trân trọng. Và ánh hào quang tỏa ra xa mãi, lay động lòng người. Như hàng trăm năm sau người ta còn nhắc tới cái tên Leonacdo Davinci như một huyền thoại trong ngành mĩ thuật, nhắc tới Issac Newton không chỉ với giai thoại quả táo rơi, định luật vạn vật hấp dẫn mà còn với nhị thức tổng quát trở thành một nền tảng quan trọng của toán học hiện đại. Như trên bầu trời đêm có những vì sao lấp lánh không giống nhau, không nhất thiết cứ phải như Bethoven, Moza, Albert Einstein,… mới thực sự là tỏa sáng. Mỗi thời, mỗi nơi đều có những vì sao của riêng mình. Như Việt Nam không có Piacso nhưng có một Bùi Xuân Phái với những bức tranh phố cổ Hà Nội làm say lòng người, có giáo sư Ngô Bảo Châu với công trình toán học của mình đã được cả thế giới công nhận bằng giải Fields danh giá. Hướng tầm mắt của mình nhìn ra cuộc sống xung quanh, ta cũng thấy có những người tài năng đang tỏa sáng - trong một cuộc thi, một công ti, một ngôi trường, một lớp học…
Tỏa sáng - đó là một cách để khẳng định ý nghĩa tồn tại của bản thân mình trước cuộc đời. Nó đòi hỏi con người phải bộc lộ, giải phóng toàn bộ nguồn năng lượng tiềm ẩn bên trong, để con người biết mình, hiểu mình và nhiều khi là ngỡ ngàng trước những khả năng mà bản thân chưa từng ngờ tới. Đạt được thành công, được công nhận và trân trọng, đó cũng là một niềm hạnh phúc, là sự đáp đền đối với những nỗ lực không ngừng nghỉ của con người. Nó sẽ tiếp thêm sức mạnh, thêm sự tự tin để con người bước tiếp trong cuộc hành trình của bản thân mình. Vạn vật thường hướng về ánh sáng. Khi một người tỏa sáng, thì anh ta không chỉ có khả năng cuốn hút những người xung quanh mà còn cuốn hút thêm nhiều cơ hội. Những cánh cửa tương lai thường rộng mở với những người xuất chúng. Như bất kì quốc gia nào đều có những chính sách đặc biệt thu hút nhân tài. Bởi lẽ, những con người xuất chúng có khả năng đóng góp tạo nên những bước phát triển vượt bậc cho toàn xã hội.
Ánh hào quang rực rỡ tỏa ra từ một ngọn lửa hừng hực cháy bên trong mỗi con người. Ngọn lửa không tự nhiên mà bùng lên. Phải dám và chấp nhận trả giá. Lưỡi lửa nuốt lấy không chỉ là toàn bộ nội lực lên trong, những đam mê nhiệt huyết mà còn đòi hỏi con người phải không ngừng làm việc và nỗ lực vươn lên. Phải bảo vệ được ngọn lửa ấy qua tất thảy mưa bão sóng gió của cuộc đời. Những vấp ngã thất bại, những vết thương đau đớn... Hào quang càng rạng rỡ thì cái giá  phải trả cho nó càng nhiều. Như Galilei đánh đổi cả sinh mệnh của mình để bảo vệ chân lí: dù sao trái đất vẫn quay. Tất nhiên, ta chỉ có thể cảm nhận một cách tương đối chứ không thể nhìn vào ánh hào quang mà khẳng định ai đã trả giá nhiều hơn ai. Mọi so sánh đều khập khiễng. Mỗi người mang hào quang sẽ đi những con đường khác nhau, tiến tới những đích đến khác nhau phụ thuộc vào khả năng của họ. Có những hi sinh lặng thầm và đau đớn mà không phải ai cũng biết.
Ánh hào quang giống như một bộ giáp vàng, lung linh quý giá nhưng để mang được nó chưa bao giờ là chuyện đơn giản. Hào quang của một người là danh tiếng lan truyền, được cộng đồng trân trọng công nhận. Nó là món quà xã hội trao cho anh, và cũng chứa đựng sức nặng của tất thảy những con người đang ngước nhìn anh vào thời khắc đó. Là kì vọng. Là tự hào. Là chờ đợi. Mọi việc anh làm không còn là của riêng anh. Dường như anh không được quyền sai sót. Áp lực đè nặng. Trong khi đó anh cũng chỉ là một con người như tất cả những người khác, cũng có khuyết điểm của riêng mình. Dễ thấy nhất, ta hãy nhìn vào showbiz: càng là những ngôi sao nổi tiếng thì càng được cánh truyền thông săn đón ráo riết. Chỉ một câu lỡ lời cũng có thể trở thành scandal chấn động để các anh hùng bàn phím xông vào ném đá. Hào quang lan rộng thì thương tổn phải gánh khi thất bại cũng có thể tăng theo cấp lũy thừa.
Bao nhiêu người trong số chúng ta dám chấp nhận đánh đổi và đủ sức để đánh đổi?
Phía sau hào quang có gì? Nói ra không phải để dọa nạt hay làm nhụt chí bất kì ai. Nếu bạn khao khát tỏa sáng, phải nhìn thẳng vào sự thật để chuẩn bị tâm lí và nỗ lực hành động. Bằng không, cứ ngồi một chỗ há miệng chờ sung, đó mãi mãi là điều không tưởng. Không đi sẽ không đến. Nhưng đi sai đường cũng chẳng thể đến nơi. Nuôi ảo tưởng về sự tỏa sáng, người ta nghĩ nó dễ dàng đạt được bằng những chiêu trò, mánh khóe. Thế nên người ta chạy theo những bằng cấp giả, vung tiền chạy chức để thỏa mãn cảm giác ngồi trên đỉnh cao, tạo danh tiếng bằng cách thay tên đổi họ những công trình nghiên cứu của người khác, rồi thì tạo scandal… Ảo tưởng sai lầm tạo ra không chỉ bởi những giới hạn trong nhận thức một con người mà còn được dung dưỡng bởi một bộ phận không nhỏ trong xã hội. Người ta lặng thinh trước những điều chướng tai gai mắt. Người ta hứng thú với những tin scandal rẻ tiền để tạo thành thứ nghịch lí ở Việt Nam: nghệ sĩ nào gây scandal càng lớn thì càng đắt show. Internet phát triển tạo sự kết nối rộng lớn và thổi bùng lên giấc mơ về sự nổi tiếng dễ dàng. Không cần tài giỏi, không cần thành công, chỉ cần xinh đẹp, dáng chuẩn là lập tức được cộng đồng mạng tôn lên thành “hotgirl bánh tráng trộn”, “hotgirl ảnh thẻ” hay đơn giản là lấy người nổi tiếng cũng sẽ được quan tâm và đóng dấu “HOTGIRL” như vợ chàng nhạc sĩ Thanh Bùi mới đây chẳng hạn. Nhưng thực tế là đời không mù và không hề thiểu năng nên những chiêu trò mánh khóe sớm muộn cũng bị bóc mẽ rồi bị đào thải. Vì kẻ đó không có đủ năng lực để giữ lấy hào quang. Vì mặt xinh ngắm mãi rồi cũng chán. Vì scandal lố quá cũng nhàm và công thức “mì ăn liền” ấy cứ nhan nhản xuất hiện khiến người ta phát ngấy. Và quan trọng nhất, vì xã hội muốn phát triển không thể ở lại với những giá trị ảo, những “món hàng giả”.
Khát khao tỏa sáng là một ước mơ chính đáng và có thể thực sự tỏa sáng là một điều kì diệu. Nhưng nếu ta chỉ là một người bình thường trong số gần 7 tỉ người trên trái đất này, đó chẳng phải là một điều gì đáng xấu hổ. Ta phải biết mình là ai giữa cuộc đời. “Bạn có thể trở thành bất kì ai bạn muốn” - đó là một lời nói dối vì thực tế là mỗi chúng ta có một năng lực riêng, phù hợp với một cuộc sống riêng. Sẽ ngớ ngẩn ra sao nếu bắt một con cá đi leo cây? Con cá là kẻ ngu ngốc trong việc trèo cây và sự không phù hợp ấy sẽ giết chết nó. Quan trọng là ta đã nỗ lực hết sức có thể trong cuộc đời mình.

Nhưng thiết nghĩ, ai cũng nên giữ trong tâm hồn mình ước mơ tỏa sáng. Như giáo sư Ngô Bảo Châu từng nói: “Không phải ai cũng có thể đạt được giải Fields, nhưng ai cũng có quyền mơ ước đến giải Fields và làm một điều gì đó để khẳng định giá trị sống của mình”. Ước mơ là chưa đủ để lan tỏa ánh sáng cho bất kì ai nhưng nó sẽ soi đường để ta tìm thấy ý nghĩa cuộc đời. Đừng tồn tại mà hãy sống, cho trọn vẹn đời mình.

Nguồn: thptchuyenlaocai

Xem bài nguyên mẫu tại :
Bài của giáo viên về đề: Phải chăng sống là tỏa sáng

nghị luận xã hội phải chăng sống là tỏa sáng

Tôi là ai? Sự sống của tôi có ý nghĩa gì? Ba trăm năm nữa liệu có ai còn biết đến sự tồn tại của tôi trên cõi đời này? Tên tuổi tôi, cuộc đời tôi có lẽ nào sẽ chìm khuất vào quên lãng? Có người hỏi tôi rằng: Phải chăng, sống là tỏa sáng? Chao ôi! Chắc chắn sống là tỏa sáng.

 

Chúng ta nên hiểu “sống” ở đây theo nghĩa rộng.”Sống” không chỉ mang nghĩa sinh học, không chỉ là sự tồn tại. Hơn nữa, nói một cách chính xác, chúng ta đang nói đến “sống” là tổng hòa tất cả những hoạt động của con người với tư cách xã hội, là con người xã hội. Con người không chỉ tồn tại mà còn “sống”, không chỉ có phần”con” mà còn mang tư cách “Người”. Sự sống của muôn loài chỉ nhằm mục đích duy trì và phát triển nòi giống, sự tiến hóa, sự sống của con người còn là vì chính mình, vì những lí do cao cả. Chúng ta có ý thức về bản thân, về lẽ sống, về giá trị cuộc đời của riêng mình. Nhưng nhất là chính ta hiểu rằng mình là một cá thể độc đáo duy nhất trong vũ trụ. Toàn nhân loại không có một con người thứ hai giống hệt ta. Vậy nếu như sự duy nhất áy bị hòa tan đi thì ta còn ý nghĩa gì nữa?

 

Bất kể ai có ý thức sống đều muốn vươn lên những cái đẹp, cái thiện, cao hơn, vươn lên trở thành Con Người viết hoa. Mỗi người có một lối sống khác nhau, tùy theo ước mơ, khát vọng của riêng mình. Cá nhân tôi cho rằng, sống đẹp là chưa đủ, con người cần phải sống “tỏa sáng”. Cố nhiên sống đẹp thì mới có thể “tỏa sáng” nhưng “tỏa sáng” còn là sự khẳng định mình, làm cho mình không bị lãng quên trong kí ức của mọi người. Trái ngược với sáng và tối. Cuộc đời như đêm tối thì không ai thấy, do vậy mà không ai nhớ. Con người không chỉ cần ”đẹp” mà còn là “đẹp theo một cách riêng”.

 

Nói “tỏa sáng” là một cách diễn đạt rất giàu hình ảnh. Sự sống của ta có thể “tỏa sáng” được chắc chắn phải có những phẩm chất. Đó là những nét đẹp được cả cộng đồng thừa nhận và khuyến khích. Nói một cách cụ thể, trước khi muốn “tỏa sáng” thì phải “sống cho ra người”. Không thể là một nhân cách lệch lạc, một đạo đức khuyết, một trí tuệ không đầy đủ. Con người trước khi vươn tới cái đẹp, thì cần phải sống- như GS. Hoàng Ngọc Hiến nói – cho”hẳn hoi”. “Hẳn hoi” là một từ rất Việt, khó có thể tìm từ nào trong ngôn ngữ khác có ý nghĩa thật gần với nó. Nhưng “hẳn hoi” không hề khó hiểu. Sống cho “ hẳn hoi” chính là nền tảng cho sống “ tỏa sáng”. Bản thân sống hẳn hoi cũng có ánh sáng của nó, đó là ánh sáng của cốt cách vững vàng, của một con người tuy không nổi trội nhưng “đẹp, đẹp hài hòa, đẹp cân xứng”. Có rất nhiều người không hiểu do vô tình hay cố ý mà không sống “hẳn hoi” được: kẻ thì quá đề cao vật chất, sống không biết đến sự di dưỡng tinh thần, người thì sống ảo tưởng, lấy điểm tựa siêu hình để bào chữa, cho rằng “nghèo” mới giữ đạo đức thanh cao được.

 

Nhưng “tỏa sáng” không phải chỉ là “hẳn hoi”.Muốn “tỏa sáng” được nhất định phải có một thế mạnh của riêng mình. Sở trường không thể làm nên toàn bộ giá trị của một người nhưng chính là yếu tố khẳng định giá trị của con người. Muốn “tỏa sáng” trước hết phải có tài năng. Tài năng có thể do bẩm sinh nhưng phần nhiều do rèn luyện mà có. Tài năng là khả năng làm những công việc đạt được hiệu quá cao, vượt lên trên mức trung bình, thậm chí vượt lên trên người khác. Mỗi người có một tài năng riêng, do vậy, tài năng chính là yếu tố khẳng định của mỗi người. Những chiếc huy chương của các kì thế vận hội chính là sự khẳng định của tài năng, đó là “tỏa sáng”. Những thành tích, thành tựu cao không thể không có sự đóng góp của tài năng. Có người nói, trong điểm mười tuyệt đối thì tám điểm là của sự cố gắng, nỗ lực, chỉ có hai điểm thuộc về năng khiếu. Tôi không phủ nhận điều đó. Nhưng xin bổ sung thêm, hai điểm của “năng khiếu” chính là điểm chín và điểm mười.Nếu không có tài năng thì dù có nỗ lực đến đâu cũng chỉ là tối đa điểm tám. Muốn có chín, có mười nhất thiết phải giỏi hơn người bằng cái tài. Trong một bài kiểm tra hay trong cuộc sống, người được điểm mười là người “tỏa sáng”, được nhớ đến!

 

Tuy thế, sống là tỏa sáng không chỉ là vượt trội, là “vĩ đại” trong khoảnh khắc. Muốn sự sống của mình thực sự tỏa sáng thì phải kiếm được điểm chín, điểm mười cho bài thi tốt nghiệp của cuộc đời. Nghĩa là điểm mười được “chấm” cho cả đời người. Khẳng định được tài năng của mình là tỏa sáng. Nhưng không phải chỉ mình ta mới có tài năng.Mà lịch sử lại thường chỉ ghi danh những người tài giỏi bậc nhất. Do đó, muốn thực sự “tỏa sáng”, cần phải đẩy tài năng của mình lên đỉnh cao nhất, luôn luôn phấn đấu vượt qua những người giỏi nhất. Để không chìm vào lãng quên, không thể không biến mình thành số một hoặc ít nhất là nỗ lực để biến mình thành số một.

 

Điều đánh dấu sự trưởng thành cũng như khẳng định chính xác nhất của tài năng chính là những thành tựu. Xét cho cùng thì lịch sử cũng chính đánh giá một tên tuổi dựa trên thành tựu. Nhưng điều ta làm được sẽ quyết định rằng ta có “tỏa sáng” hay không. Cuộc sống thường khắc nghiệt nhất ở điều ấy. Cho dù ta nói rằng bản thân đã cố gắng hết mình, nhưng nếu kết quả là thất bại, anh vẫn là kẻ thất bại. Nếu chỉ ôm ấp tài năng của mình, ngồi tự hào về nó trong buồn ngủ thì vĩnh viễn không thể “tỏa sáng”. Để có được thành tựu lớn nhất của mình, con người cần phải hành động quyết liệt.

 

Sự “tỏa sáng” của một người suy cho cùng cũng là để nhân loại không lãng quên mình. Do đó, muốn thực sự “tỏa sáng” được, cần phải có những đóng góp vào cuộc sống chung. Sự sống về vật chất của ta sau sinh, lão, bệnh ắt sẽ đến tử. Cát bụi lại trở về với cát bụi. Con người chỉ có thể bất tử khi cuộc đời, sự nghiệp của mình ghim vào kí ức cộng đồng. Hơn thế nữa, khi con người chỉ đặt mục tiêu sống vì mình, chúng ta sẽ không bao giờ tạo ra được một thành quả to lớn. Muốn có thành tựu vĩ đại, phải hướng đến những lí tưởng phục vụ cho cuộc sống chung. Bên cạnh chất “cao cả” của lí tưởng, một mục tiêu lớn mới có khả năng thúc đẩy con người phát huy hết năng lực của mình, đạt được những thành tựu kì vĩ. Chủ tịch Hồ Chí Minh khi ra đi từ bến Nhà Rồng không có mục đích nào khác ngoài lí tưởng giải phóng dân tộc. Tôi cho rằng, Bác đã thành công một nửa khi dám nghĩ, dám làm, dám đặt ra mục đích của một đời như vậy.

 

Có lẽ sẽ có nhiều người cho rằng, cuộc sống vốn đã đẹp, đã sống, được tận hưởng thế giới đã là một điều may mắn và mãn nguyện. Nhưng trong chúng ta, bao nhiêu người còn nhớ về cụ nội của mình? Và bao nhiêu người sẽ được chắt mình nhớ tới? Chỉ trong vài thế hệ, cả một cuộc đời đã chìm vào quên lãng. Cuộc đời tôi không thể nhưu vậy!

Nguồn: hoatrangnguyen

Xem nguyên bài viết tại :
nghị luận xã hội phải chăng sống là tỏa sáng

Câu hỏi : Phải chăng, sống là tỏa sáng?

“Tôi muốn sống như một bông hướng dương”. Cô gái bé nhỏ viết nên những dòng tâm sự ấy khi đang từng ngày phải chiến đấu với căn bệnh ung thư, có những khi nỗi đau dường như vượt quá sức chịu đựng. Lấy tên một loài hoa hướng sáng mạnh mẽ để đặt nhan đề cho cuốn sách đầu tiên và có lẽ cũng là cuối cùng của mình, cô gái ấy muốn nói với chúng ta về khao khát sống mãnh liệt, muốn nhắn nhủ với cả tôi và bạn rằng:”Phải chăng, sống là tỏa sáng?”.

 

Mỗi một sinh linh trong cõi sống này đều mang trong mình sự sống riêng của nó. Dù chỉ ngắn ngủi như một cánh bướm ngoài kia, kết thúc cuộc đời khi trái đất hoàn thành một vòng quay dài hai tư tiếng; hay là một con người với một kiếp sống đến trăm năm, tất cả đều mang theo cái sứ mệnh thiêng liêng là sống. Sống chứ không phải tồn tại. Nhất là ở loài người, có một bộ óc để suy nghĩ, một trái tim để yêu thương đùm bọc. Ta không thể chỉ đơn thuần duy trì cái hơi thở trong lồng ngực mà cứ bước đi nghênh ngang giữa cuộc đời. Sống là cần tạo cho mình một giá trị, sống là cần phải tỏa sáng!

 

Không giống như loài thú sống với bản năng, con người là tổng hòa của những mặt đối lập, những giá trị cao thấp, sang hèn khác nhau. Càng sống ta càng thấy mình chưa hoàn hảo nhưng ta chưa lúc nào lơi lỏng cái khát khao hoàn thiện mình.

 

Một đàn cá hồi phải vượt ngàn dặm thác để đến vùng nước ấm đẻ trứng. Những chú rùa biển vừa chào đời đã phải tự mình tìm đường về với biển khơi, nơi những hàm răng sắc nhọn của những loài sinh vật hung tợn đang trực chờ. Sự sống có được đâu phải là dễ dàng và hiển nhiên. Ngay cả con người cũng vậy. Để ta đến được với cuộc sống này, mẹ ta trải qua chín tháng mang nặng đẻ đau; trái tim của mẹ, của cha luôn đập những nhịp đập mong ngóng và nồng ấm nhất, hòa cùng với trái tim nhỏ bé của ta trong lồng ngực. Rồi mẹ cha trao cho ta cuộc sống, chăm sóc và nuôi dưỡng ta từng ngày, dạy ta những bài học cuộc đời đầu tiên.

 

Bởi thế sự sống không phải là để phí hoài vô nghĩa, không phải là để ta phung phí đi trong những ngày tháng nông nổi. Mỗi con người sống cần phải tạo nên một giá trị nào đó. “Tỏa sáng” là khi ta, chính ta nỗ lực và cố gắng đạt được một thành công nào đó, dâng hiến cho cuộc đời những giá trị vật chất và tinh thần, là khi ta sống như ngọn lửa, cháy bỏng với những mơ ước và khao khát, khi ta truyền đi hơi ấm của sự sống tỏa sáng sẽ làm cho con người trải nghiệm niềm hạnh phúc đích thực được sống ở đời.

 

Ánh sáng mà con người tạo ra là thứ ánh sáng đẹp nhất. Nó hiện hình trong cuộc sống hàng ngày với bao sắc màu khác biệt. Có những con người tạo nên kì tích lớn, hào quang xung quanh họ rực rỡ vô cùng; nhưng cũng có những đồng loại bé nhỏ, đóng góp cho cuộc đời âm thầm lặng lẽ. Thứ ánh sáng mà họ tạo ra dịu dàng mà lắng sâu. Giống như mặt trời rực rỡ đem lại sự sống và ánh sáng cho muôn triệu sinh linh toàn trái đất. Nhưng khi mặt trời lặn, ánh sáng lên, những đốm sáng của đom đóm lung linh huyền ảo. Nó làm cho ta không khỏi ngỡ ngàng, nó thôi thúc ta nâng niu sự sống. Điều quan trọng không phải là thứ ánh sáng nào ta sẽ tạo ra mà là hãy sống vì vầng ánh sáng trong tim mình. Chỉ cần ta biết cuộc sống không thể cứ chìm mãi trong tối tăm và sự vô nghĩa lí, ta sẽ khao khát tỏa sáng mà thôi.

 

Bạn có thấy không, những cuộc đời rạng ngời trong tăm tối? Khi mà bóng tối cảu cái chết đang đến gần, người ta càng khát khao sự sống hơn. Cô gái Diệu Huyền, tác giả cuốn tự truyện Như hoa hướng dương không hề buông xuôi trước lưỡi hái của thần chết. Cô đã tiếp tục cuộc sống của mình, lấy được tấm bằng tốt nghiệp của một trường đại học. Và ngày ngày vẫn luôn có bao người thân, gia đình và bạn bè sát cánh bên cô. Không lúc nào khao khát sống và cống hiến cho ước mơ vơi đi trong lòng cô gái trẻ. Phải chăng khi mà sự sống tưởng như sắp tuột khỏi tay thì họ, những con người phi thường mà lặng lẽ, lại biến nó thành những viên ngọc quý lấp lánh trong đời?

 

Khi người ta lâm vào nghịch cảnh, đó lại là cơ hội để tỏa sáng. Quán quân Vua đầu bếp của nước Mĩ- Crít- ti-na Hà giành được chiếc cúp khi mà đôi mắt của cô đã mất đi ánh sáng bởi một căn bệnh từ mười năm trước. Nhưng nhìn vào trong đôi mắt của cô, người ta chỉ thấy sáng lên một niềm đam mê với ẩm thực, một tình yêu mãnh liệt với sự sống. Cô đã không gục ngã trên con đường đến với vinh quang.”Tôi không muốn mình bị bỏ lại, tôi muốn làm điều gì có ích cho những người đã hi sinh mọi thứ để ở bên tôi khi tôi đau khổ nhất”, lời tâm sự ấy đủ để cho ta thấy ánh sáng ấm áp từ trái tim của Crít-ti-na.

 

Vậy đấy, khi trước mặt chúng ta bỗng hiện ra những chông gai thử thách, một bức tường khổng lồ ngỡ không thể vượt qua, thì đó chính là lúc ta cần phải kiên trì và nỗ lực hơn nữa. Bạn có tin vào điều kì diệu trong cuộc sống này?

 

Những con người đã cháy hết mình cho khát khao của họ, và họ đã có được thành công. Nó không phải chỉ là những thành quả được mọi người công nhận mà còn là tấm huy chương danh giá khắc ghi những nỗ lực vượt lên chính mình. Họ đã có thể buông xuôi, có khi đã lùi bước nhưng họ đã lựa chọn tiến lên, dù có phải chịu đựng những đớn đau và nhỏ những giọt mồ hôi cùng nước mắt. Vinh quang ấy mới rạng rỡ và hạnh phúc làm sao!

 

Từ ngữ nào đủ để diễn tả niềm vui của Nô-vắc Jô-kô-víc khi anh giành chức vô địch Wim-lơn-đơn và bước lên ngôi vị số một thế giới vào năm 2011? Có lẽ giấc mơ từ thuở thiếu thời đã thành sự thực ấy là phần thưởng xứng đáng cho những nỗ lực không mệt mỏi của anh. Nhưng khi trả lời phỏng vấn của một tờ báo, Nô-vắc đã tâm sự rằng: “Khi nhìn vào chiếc cúp trên tay, tôi thấy hình bóng của những huấn luyện viên của mình. Họ đã giúp tôi có được ngày hôm nay. Cả gia đình tôi, những người luôn ở bên tôi và biết bao khán giả đã ủng hộ tôi cho đến tận lúc này. Vinh quang này là dành cho họ”. Và ta chợt nhận ra, phía sau hào quang của chiếc cúp kia là bao thứ ánh sáng bình thường giản dị. Có những người luôn đứng sau cánh gà để cổ vũ động viên. Những ngọn đèn rực rỡ sẽ không bao giờ chiếu sáng đến họ nhưng tự thân họ đã tỏa thứ ánh sáng kì diệu. Mỗi chúng ta đều có cho mình một người thầy, nhiều người thầy, những người đưa đò tận tụy. Họ đã mang cả tâm huyết, cả trái tim để góp cho ta thứ ánh sáng rực rỡ đến từ tri thức, còn mình thì lấy về mái đầu bạc và những lo toan. Lẽ nào ta lãng quên họ?

 

Nếu ta chỉ ngồi đó và trông chờ ánh sáng tới, ta cũng không hơn gì một vật phản quang. Ánh sáng nào sẽ đến với Mô-za khi ông mất đi thính giác? Chẳng có luồng sáng thần tiên nào cả, chỉ có bàn tay ông tự tìm tới những phím đàn, soạn nên những khúc giao hưởng đi cùng năm tháng. Mỗi chúng ta hãy tự thắp cho mình một ngọn đèn soi tỏ những ước mơ còn ấp ủ. Hãy biến mình thành ngọn lửa rực cháy của đam mê.

 

Không có cuộc đời nào trên hành tinh là vô nghĩa. “Tất cả chúng ta đều là thiên tài” – Anh-xtanh đã từng nói vậy. Chỉ là ta có thể đánh thức kẻ thiên tài ấy trong tâm hồn mình hay không. Quả là sống cần tỏa sáng, để khẳng định mạnh mẽ sự tồn tại của bản thân. Nhưng hãy nhớ, đừng chạy theo những gì lấp lánh, đừng bán tâm hồn mình cho tiền tài, danh vọng mà trà đạp lên đồng loại. Ánh sáng thực phát ra từ tâm, từ cái thiện ẩn sâu trong lòng người.

 

“Em sẽ lấy anh chứ?” – Đó là lời cầu hôn của Ních dành cho bạn gái của mình, khi cô chỉ còn chút thời gian ít ỏi ở nhân thế. Năm ngày sau, thần chết đã cướp cô đi. Nhưng trên môi cô dâu ấy vẫn nở nụ cười thật tươi bởi ánh sáng của tình yêu mà người chông đã trao đến trái tim cô, ánh sáng ấy đã đẩy lùi bóng tối. sống, phải chăng không chỉ là tỏa sáng cho riêng mình?

Nguồn: hoatrangnguyen

Xem nguyên bài viết tại :
Câu hỏi : Phải chăng, sống là tỏa sáng?

Tổng hợp bài làm các chủ đề văn nghị luận hay nhất

Nghị luận là một thể loại văn học được viết ra nhằm xác định cho người đọc và người nghe một tư tưởng hay quan điểm nào đó . Trong một bài văn nghị luận ta phải có luận điểm rõ ràng, dẫn trứng và các lý lẽ. Những vẫn đề hay quan điểm trong một bài văn nghị luận phải hướng tới những cách thức và phương pháp giải quyết các vấn đề trong xã hội thì bài văn đó mới đạt tiêu chuẩn và có ý nghĩa. Dưới đây là tổng hợp những đề văn nghị luận dành cho các bạn nhé.

Vì dạng văn nghị luận rất rộng lớn và có nhiều đề văn khác nhau. Vì thế, mình đã chi ra các mục lớn để các bạn dễ tìm kiếm hơn. Các bạn hãy click vào link dưới đây để đi tới những mục lớn đó nhé.

Lưu ý: bài viết m đang hoàn thiện

Triết lý sống Tư tưởng đạo lý Gia đình Hiện tượng xã hội Văn học


Tổng hợp những bài văn nghị luận Xã Hội

Nghị luận về một triết lý sống

Triết lý sống là là những điều được đúc kết và rút ra từ những trải nghiệm, những kinh nghiệm nào đó. Nó như một nền tảng có sở để ta nhìn nhận một điều nào đó. Tất cả những điều này được rút ngắn gọn một cách xúc tích. Nó như một tín hiệu, một kim chỉ nam cho mọi người về cách ứng xử, đối nhân xử thế và hành động của mình.

nghị luận người đi quá nhanh sẽ đến quá muộn
nghị luận xã hội phải chăng sống là tỏa sáng
nghị luận xã hội học đi đôi với hành
nghị luận xã hội có chí thì nên
nghị luận xã hội có công mài sắt
nghị luận xã hội không thầy đố mày làm nên
nghị luận xã hội có tiền mua tiên cũng được
nghị luận xã hội không có việc gì khó
nghị luận xã hội không thể bẻ đũa cả nắm
nghị luận xã hội ở hiền gặp lành
Văn nghị luận xã hội uống nước nhớ nguồn
văn nghị luận xã hội tiên học lễ hậu học văn
nghị luận xã hội 1 điều nhịn 9 điều lành
nghị luận xã hội an toàn giao thông là hạnh phúc của mọi nhà
nghị luận xã hội ăn cho mình mặc cho người
nghị luận xã hội chỉ có cuộc sống vì người khác mới là cuộc sống đáng quý
nghị luận xã hội chiến thắng bản thân là chiến thắng hiển hách nhất
nghị luận xã hội trẻ em như búp trên cành
nghị luận xã hội bán anh em xa mua láng giềng gần
nghị luận xã hội chớ thấy sóng cả mà ngã tay chèo
nghị luận xã hội có tiền là có tất cả
nghị luận xã hội giữ gìn sự trong sáng của tiếng việt
nghị luận xã hội gập máy tính lại tắt điện thoại đi
nghị luận xã hội duy chỉ có gia đình
nghị luận xã hội dù vua chúa hay dân cày
nghị luận xã hội dùng hàng việt là yêu nước
nghị luận xã hội dân ta phải biết sử ta
nghị luận xã hội thất bại là mẹ thành công
nghị luận xã hội ai cũng chọn việc nhẹ nhàng
nghị luận xã hội ai cũng chọn việc nhẹ nhàng

Nghị luận về một tư tưởng đạo lý

Cha ông ta đời đời vẫn luôn coi nhân cách và đạo đức của mỗi con người là thước đo giá trị của chúng ta.Cách sống của chúng ta, lý tưởng, những mối quan hệ trong xã hội luôn đánh giá về một con người. Một người để có ích cho xã hội cần có một cách nhìn nhận về cuộc sống và con người một cách đúng đắn.

nghị luận xã hội về tình bạn
nghị luận xã hội về lòng nhân hậu
Nghị luận xã hội về lối sống đẹp
nghị luận xã hội về lòng yêu nước
nghị luận xã hội về lòng tự trọng
nghị luận xã hội về lòng nhân ái
nghị luận xã hội về sống đẹp
nghị luận xã hội về lòng biết ơn
nghị luận xã hội về hạnh phúc
Nghị luận về sống có ích
nghị luận xã hội cá nhân và tập thể
nghị luận xã hội về niềm tin
văn nghị luận xã hội về lòng nhân ái
văn nghị luận xã hội về văn hóa xếp hàng
văn nghị luận xã hội về lòng dũng cảm
bài nghị luận xã hội về đức tính khiêm tốn
nghị luận xã hội tài và đức
bài nghị luận xã hội về tình yêu thương
nghị luận xã hội về cho và nhận
nghị luận xã hội giá trị của lời xin lỗi
nghị luận xã hội danh và thực
nghị luận xã hội du học
nghị luận xã hội doan ket
nghị luận xã hội nói dối
nghị luận xã hội về danh dự
nghị luận xã hội điều em cần trong cuộc sống
nghị luận xã hội điều em muốn nói
nghị luận xã hội khi em đã lớn khôn
nghị luận xã hội bảo vệ quyền trẻ em
nghị luận xã hội bàn về đọc sách
nghị luận xã hội chí làm trai
nghị luận xã hội cái tôi của tuổi mới lớn
nghị luận xã hội chất độc màu da cam
nghị luận xã hội dựa vào chính mình
Nghị luận về ước mơ, hoài bão
nghị luận xã hội không gục ngã

Nghị luận xã hội về gia đình

Đối với tôi, gia đình là nơi bình yên nhất. Mỗi khi chúng ta vấp ngã, chúng ta buồn, gia đình là điểm tựa vững chắc nhất mà chúng ta có để ta có thể tiếp tục thực hiện những lý tưởng, ước mơ của mình.

Các bạn có thể xem tổng hợp tất cả ở đây nhé: nghị luận về người thân trong gia đình

nghị luận xã hội về tình mẫu tử
bài nghị luận xã hội về lòng hiếu thảo
nghị luận xã hội ăn quả nhớ kẻ trồng cây
nghị luận xã hội công cha như núi thái sơn
nghị luận xã hội anh em như thể tay chân

Nghị luận về một vấn đề xã hội

Xã hội chúng ta ngày càng phát triển dẫn đến những thói hư, tật xấu phát triển theo. Để biết được những điều nên và không nên làm cho mỗi chúng ta. Vậy, các bạn có cách nhìn nhận gì về những vấn đề xã hội đang nhức nhối hiện nay.

nghị luận xã hội bạo hành trẻ em
nghị luận xã hội về bệnh vô cảm
nghị luận xã hội về hiện tượng sống ảo
nghị luận xã hội về bạo lưc học đường
nghị luận xã hội biến đổi khí hậu
nghị luận xã hội trẻ em
nghị luận xã hội facebook*
nghị luận xã hội fan cuồng kpop
nghị luận xã hội về an toàn giao thông
nghị luận xã hội không trung thực trong học tập
nghị luận xã hội ùn tắc giao thông
văn nghị luận xã hội về trò chơi điện tử
nghị luận xã hội về đại dịch hiv/aids
nghị luận xã hội bệnh thành tích
nghị luận xã hội về thực phẩm bẩn
Nghị luận về ô nhiễm môi trường
Nghị luận về thói hư tật xấu

Tổng hợp Nghị luận Văn Học

Tổng hợp những bài văn nghị luận văn học. Những đề văn nghị luận văn học chủ yếu được đưa ra cho những bạn học cấp 3 như: lớp 10, lớp 11, lớp 12. Giúp các bạn hiểu thêm về những bài văn mình đã học và có những bài học sương máu từ những bài văn đó. Giúp các bạn vững bước trên đường đời đang rộng mở sắp tới.

nghị luận văn học chữ người tử tù
nghị luận văn học chí phèo
nghị luận văn học hai đứa trẻ thạch lam
nghị luận văn học vội vàng
nghị luận văn học tỏ lòng
nghị luận văn học nhàn
nghị luận văn học bài cảnh ngày hè
nghị luận văn học lưu biệt khi xuất dương
nghị luận văn học vợ chồng a phủ
nghị luận văn học hạnh phúc của một tang gia
nghị luận văn học tràng giang
nghị luận văn học đây thôn vĩ dạ
nghị luận văn học và tình thương
nghị luận văn học trao duyên
nghị luận văn học thương vợ
nghị luận văn học câu cá mùa thu
nghị luận văn học chiều tối
nghị luận văn học từ ấy
nghị luận văn học bình ngô đại
nghị luận văn học việt bắc
nghị luận văn học bài tự tình 2
nghị luận văn học kiều ở lầu ngưng bích
nghị luận văn học uy lít xơ trở về
văn nghị luận văn học văn tế nghĩa sĩ cần giuộc
bài văn nghị luận văn học chí khí anh hùng
nghị luận văn học tây tiến
nghị luận văn học bài sóng
nghị luận văn học bài thu điếu
nghị luận văn học bài ca ngất ngưởng
nghị luận văn học chiếc thuyền ngoài xa
nghị luận văn học chinh phụ ngâm
nghị luận văn học chiếc lược ngà
nghị luận văn học chiếu cầu hiền
nghị luận văn học chiều tối hồ chí minh
nghị luận văn học chiếu dời đô
nghị luận văn học chiến thắng mtao mxây
nghị luận văn học ca dao than thân
nghị luận văn học chị em thúy kiều
nghị luận văn học đất nước
nghị luận văn học xuất dương lưu biệt
nghị luận văn học 12 rừng xà nu
nghị luận văn học 12 vợ nhặt
nghị luận văn học 12 người lái đò sông đà
nghị luận văn học tôi yêu em
nghị luận văn học tác giả nguyễn trãi
nghị luận văn học tác giả nguyễn du
nghị luận văn học chạy giặc
nghị luận văn học bạch đằng giang phú
nghị luận văn học nhớ rừng
nghị luận văn học sông hương
nghị luận văn học sa hành đoản ca
nghị luận văn học sống chết mặc bay
nghị luận văn học đăm săn
nghị luận văn học tình cảnh lẻ loi
nghị luận văn học tấm cám
nghị luận văn học tuyên ngôn độc lập
nghị luận văn học quê hương tế hanh
nghị luận văn học bến quê
nghị luận văn học hien tai la nguyen khi quoc gia
nghị luận văn học về tác phẩm viếng lăng bác

 

Xem bài nguyên mẫu tại :
Tổng hợp bài làm các chủ đề văn nghị luận hay nhất

Thứ Tư, 12 tháng 4, 2017

Thuyết minh về truyện ngắn

Lịch sử phát triển của nền văn học hiện đại và đương đại Việt Nam gắn liền với truyện ngắn. Thế kỉ XX, truyện ngắn Việt Nam phát triển liên tục và vượt trội lên trên tất cả các thể loại, bắt đầu từ những năm hai mươi với sự đóng góp của Nguyễn Bá Học, Phạm Duy Tốn, Hồ Biểu Chánh, Nguyễn Công Hoan, Thạch Lam, Nam Cao, Kim Lân, Tô Hoài, Bùi Hiển, Vũ Bằng...

Truyện ngắn là thể loại gần gũi với đời sống hằng ngày, súc tích, dễ đọc, lại thường gắn liền với hoạt động báo chí, do đó có tác dụng, ảnh hưởng kịp thời trong đời sống. Nhiều nhà văn lớn trên thế giới và nước ta đã đạt tới đỉnh cao của sự nghiệp sáng tạo nghệ thuật chủ yếu bằng những truyện ngắn xuất sắc của mình. Truyện ngắn xuất hiện trên một tạp chí xuất bản đầu thế kỉXIX, pháttriển lên đến đỉnh cao nhờ những sáng tác xuất sắc của văn hào Nga Chekhov và trở thành một hình thức nghệ thuật lớn của văn học thế kỉ XX.

Mặc dù thuật ngữ truyện ngắn ra đời muộn (khoảng cuối thế kỉXIX) nhưng bản thân truyện ngắn đã xuất hiện và tồn tại ngay từ buổi bình minh của nhân loại, khi con người biết sáng tác văn chương. Trải qua hàng ngàn năm, với bao biến cố thăng trầm của thể loại, ngày nay truyện ngắn đã chiếm lĩnh được vị trí quan trọng trên văn đàn trong kỉ nguyên hiện đại, hậu hiện đại, khi con người bị dồn ép về mặt thời gian hơn bao giờ hết. Con người không có đủ thời gian cho những bộ tiểu thuyết đồ sộ như: Tây du kí, Tam quốc diễn nghĩa, Thuỷ hử, Hồng Lâu mộng, Những người khốn khổ, Chiến tranh và hòa bình, Sông Đông êm đềm.... Truyện ngắn là tác phẩm tự sự loại nhỏ, đơn giản là lối trần thuật khiến “độc giả có thể đọc liền một mạch”. Truyện ngắn tập trung mô tả một mảnh của cuộc sống, một biến cố, một hành động, một trạng thái nào đó trong cuộc đời nhân vật, thể hiện một khía cạnh của tính cách hay một mặt nào đó của cuộc sống xã hội. Truyện ít nhân vật và sự kiện, cốt truyện diễn ra trong một không gian, thời gian hạn chế. Không kể trọn vẹn một quá trình diễn biến đời người mà chọn lấy những khoảnh khắc, những "lát cắt" của cuộc sống để thể hiện. Kết cấu: sắp đặt những đối chiếu, tương phản để làm bật chủ đề. Tuy ngắn nhưng truyện ngắn có thể đề cập tới những vấn đề lớn của cuộc đời.Còn Poe viết: “Trong cấu trúc tổng thể của nó, không có một từ nào mà sự thể hiện khuynh hướng trực tiếp hoặc gián tiếp của nó không được nhà văn sắp đặt trước. Với ý nghĩa đó, bằng tài năng và sự chăm sóc kĩ lưỡng của nhà văn, tác phẩm như một bức tranh hiện lên với trọn vẹn màu sắc, đưa lại cho người đọc sự thỏa mãn đầy đủ nhất”. Truyện ngắn đã hàm chứa cái thú vị của những điều sâu sắc trong một hình thức nhỏ, gọn, xinh xinh và đầy truyền cảm, truyền dẫn cực nhanh những thông tin, nhanh cũng là một thế mạnh để truyện ngắn chinh phục độc giả đương đại.

Raymond Carver - một trong những bậc thầy truyện ngắn thế giới ghi nhận: ngày nay “tác phẩm hay nhất, tác phẩm hấp dẫn và thỏa mãn nhất về nhiêu mặt, thậm chí có lẽ tác phẩm có cơ hội lớn nhất để trường tồn, chính là tác phẩm được viết dưới dạng truyện ngắn”. Truyện ngắn gắn chặt với báo chí. Đây là một lợi thế lớn, bởi hiện tại báo chí kể cả báo điện tử đang bùng nổvới tốc độ chóng mặt. Người đọc quen và thích đọc truyện ngắn trong vài chục phút họặc trong một vài giờ. Hơn nữa, sau nhiều năm chiếm lĩnh văn đàn, thơ, kịch, tiểu thuyết dường như vắt kiệt về khả năng hồi sinh và đổi mới thể loại. Trong khi đó truyện ngắn còn là mảnh đất tương đối trống, điều này tạo điều kiện hết sức thuận lợi đểcác cây bút trẻ khẳng định tài năng.

Lịch sử phát triển của nền văn học hiện đại và đương đại Việt Nam gắn liền với truyện ngắn. Thế kỉ XX, truyện ngắn Việt Nam phát triển liên tục và vượt trội lên trên tất cả các thể loại, bắt đầu từ những năm hai mươi với sự đóng góp của Nguyễn Bá Học, Phạm Duy Tốn, Hồ Biểu Chánh, Nguyễn Công Hoan, Thạch Lam, Nam Cao, Kim Lân, Tô Hoài, Bùi Hiển, Vũ Bằng... Từ sau Cánh mạng tháng Tám truyện ngắn có chững lại nhưng vẫn chảy liên tục với tên tuổi: Trần Đăng, Vũ Tú Nam, Nguyên Ngọc, Nguyễn Khải, Nguyễn Quang Sáng, Vũ Thị Thường, Lê Minh, Nguyễn Minh Châu... Chiến tranh kết thúc, truyện ngắn vượt lên tỏ rõ sự ưu việt của mình trong sự khám phá nghệ thuật đời sống. Nhât là 1986 trở đi, truyện ngắn gần như đã độc chiếm toàn bộ văn đàn, hằng ngày trên các báo và các tạp chí có trên dưới hai mươi truyện ngắn được in.Thực tế ấy đã kích thích mạnh đến việc sáng tác, phê bình - lí luận về truyện ngắn những năm gần đây. Nhiều cuộc thi sáng tác truyện ngắn được khởi xướng. Nhiều cuộc hội thảo đã được mởra và nhiều ý kiến có khi trái ngược nhau cũng đã được trình bày. Điều này chứng tỏ, truyện ngắn đang là thể loại được các nhà văn quan tâm, nỗ lực cách tân bậc nhất. Nguyễn Huy Thiệp đă từng tạo nên một cơn lốc xoáy văn học. Gần đây không khí văn chương được nóng lên bởi tên tuổi Đỗ Hoàng Diệu - Bóng đè, Nguyễn Ngọc Tư - Cánh đồng bất tận. Mỗi nhà văn một bút pháp riêng tạo nên “hiệu ứng” truyện ngắn hay và được gắn với các tên gọi “bội thu”, “thăng hoa", “được mùa”, “lên ngôi”, điều đó chứng tỏ truyện ngắn đã được đổi mới.

Như vậy truyện ngắn là một thể loại văn học hiện đại. Ngày nay nó đã và đang phát huy được ưu thế và đóng góp không nhỏ vào thành tựu của văn học Việt Nam thế kỉ XX, XXI và mãi về sau.

Xem nguyên bài viết tại :
Thuyết minh về truyện ngắn

Thuyết minh về thể thơ lục bát

Lục bát là một trong hai thể loại thơ chính của Việt Nam (lục bát và song thất lục bát). Thơ lục bát ở Việt Nam được truyền bá và phát triển hàng trăm năm nay. Thơ lục bát đã thấm đẫm tâm hồn người Việt chúng ta vì đó là thể thơ trong ca dao, đồng dao và các bài ru con. Ngày nay thơ lục bát vẫn được các nhà thơ hiện đại tiếp thu, hoàn chỉnh và giữ một vị trí quan trọng trong nền văn học Việt Nam hiện đại. Thơ lục bát rất giản dị về quy luật, dề làm thưòng dùng để diễn tả những cung bậc cảm xúc khác nhau trong tâm hồn con người.

Thơ lục bát có nguồn gốc lâu đời, là một thể thơ dân tộc ta, thơ lục bát bao gồm có thể từ hai câu trở lên. Trong đó thì cứ hai câu ghép lại thành một cặp câu. Các cặp câu gồm có một câu 6 tiếng (câu lục) và một câu 8 tiếng (câu bát), và xen kẽ cứ câu lục là câu bát rồi đến cặp câu khác, số câu trong bài không giới hạn. Thông thường thì bắt đầu bằng câu sáu chừ và chấm dứt ớ câu tám chữ. Nhưng cũng có khi kết thúc bằng câu sáu để đạt tính cách lơ lừng, thanh và vân, vì vậy tìm hiêu thơ lục bát là tìm hiểu về luật và vần của nó. Luật về thanh giúp cho câu thơ trở nên hài hoà. Các vần chính là hình thức kết dính các câu thơ lại với nhau.

Luật thanh trong thơ lục bát: Thơ lục bát có 2 câu chuẩn là câu lục và câu bát, cũng như thơ Đường luật, nó tuân thủ quy tắc nhất, tam, ngũ bất luận; nhị, tứ, lục phân minh. Nghĩa là các tiếng thứ 1, 3, 5 trong câu có thể tự do vê thanh, nhưng các tiêng thứ 2, 4, 6 thì phải theo luật chặt chẽ. Luật như sau:

Câu lục: theo thứ tự tiếng thứ 2-4-6 là Bằng (B) - Trắc (T) - Bằng

Câu bát: theo thứ tự tiếng thứ 2-4-6-8 là B-T-B-B

Ví dụ:

Nửa đêm qua huyện Nghi Xuân (B-T-B)

Bâng khuâng nhớ Cụ, thương thân nàng Kiều (B-T-B-B)

(Tố Hữu)

Về phối thanh, chỉ bắt buộc các tiếng thứ tư phải là trắc, các tiếng thứ hai, thứ sáu, thứ tám phải là băng, nhưng trong câu tám các tiếng thứ sáu thứ tám phải khác dấu, nếu trước là dấu huyền thì sau phải là không dấu hoặc ngược lại:

Một cây làm chăng nên non

Ba cây chụm lại nên hòn núi cao

Thế nhưng đôi khi có thể tự do về tiếng thứ hai của câu lục hay câu bát, có thê biên nó thành thanh trắc. Hoặc là câu lục giữ nguyên mà câu bát thì lại theo thứ tự T-B-T-B những câu thơ thế này ta gọi là lục bát biến thể.

Ví dụ:

Có xáo thì xáo nước trong T-T-B

Đừng xảo nước đục đau lòng cò con T-T-B-B

Hay:

Con cò lặn lội bờ sông

Gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non T-B-T-B

Cách gieo vần trong thơ lục bát: Thơ lục bát có cách gieo vần khác với các thơ khác. Có nhiều vần được gieo trong thơ nhiều câu chứ không phải là một vần, điều này tạo cho thơ lục bát tính linh hoạt về vần. Thể thơ lục bát thường được gieo vần bằng; tiếng cuối của câu lục hiệp với tiếng thứ sáu của câu bát, tiếng thứ sáu của câu bát hiệp với tiếng của câu lục tiếp; cứ như thế đến hết bài lục bát:

Trăm năm trong cõi người ta

Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau

Trải qua một cuộc bể dâu

Những điều trông thay mà đau đớn lòng.

Như thế ngoài vần chân có ở hai câu 6 8, lại có cả vần lưng trong câu tám .Tiểu đối trong thơ lục bát: Đó là đôi thanh trong hai tiêng thứ 6 (hoặc thứ 4) của câu bát với tiếng thứ 8 câu đó. Nếu tiếng này mang thanh huvên thì tiếng kia bắt buộc là thanh ngang và ngược lại.

Ví dụ:

Đau đớn thay phận đàn bà

Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung

Ngoài đối thanh còn có đối ý:

Dù mặt lạ, đã lòng quen

(Bích câu kì ngộ)

Cách ngắt nhịp trong thơ lục bát: Thơ lục bát thông thường ngắt nhịp chẵn, là nhịp 2/2/2, hoặc 4/4 để diễn tả những tình cảm thương yêu, buồn đau...

Người thương/ơi hỡi/ người thương

Đi đâu /mà để /buồng hương/ lạnh lùng

Đôi khi để nhấn mạnh nên người ta đổi thành nhịp lẻ đó là nhịp 3/3: Chồng gì anh/ vợ gì tôi Chẳng qua là cái nợ đòi chi đây Khi cần diễn đạt những điều trắc trở, khúc mắc, mạnh mẽ, đột ngột hay tâm trạng bất thường, bất định thì có thể chuyển sang nhịp lẻ 3/3, 1/5, 3/5... Thể thơ lục bát với cách gieo vần, phối thanh và nẹắt nhịp giản dị mà biến hóa vô cùng linh hoạt, phong phú và đa dạng, nó rất dồi dào khả năng diễn tả. Đa số ca dao được sáng tác theo thể lục bát. Theo thống kê của các nhà nghiên cứu có hơn 90% lời thơ trong ca dao được sáng tác bằng thể thơ này.

Từ những đặc trưng cấu trúc ngữ nghĩa trên có thể thấy về cơ bản thể thơ lục bát vẫn là thể thơ nền nã, chỉnh chu với những quy định rõ ràng về vần nhịp, về số tiếng mồi dòng thơ, về chức năng đảm trách của mồi câu trong thể. Tuy vậy cũng có lúc câu lục tràn sang câu bát, câu lục và câu bát dài quá khổ, có khi xê dịch phối thanh, hiệp vần... đó là dạng lục bát biến thể. Sự biến đổi đó là do nhu cầu biểu đạt tình cảm ngày càng phong phú, đa dạne phá vỡ khuôn hình 6/8 thông thường. Tuy nhiên dù phá khuôn hình, âm luật, cách gieo vần của thể thơ lục bát cơ bản vẫn giữ nguyên. Đó là dấu hiệu đặc trưng cho ta nhận biết nó vẫn là thể lục bát.

Bên cạnh lục bát truyền thống còn có lục bát biến thể là những câu có hình thức lục bát nhưng không phải trên sáu dưới tám mà có sự co giãn nhất định về âm tiết về vị trí hiệp vần... Hiện tượng lục bát biến thể là vàn đề đáng chú ý tronẹ ca dao, chúng ta có thể xem xét một số trườne hợp: Lục bát biến thể tăng, tiếng lục bát biến thể giảm số tiếng.

Xét về mặt nội dung thơ lục bát diễn đạt tâm trạng nhiều chiều của nhàn vật trữ tình. Thông thường người bình dân hay mượn thể loại văn vần này đê bày tỏ nôi lòng, tâm trạng của mình trong cuộc sông, sinh hoạt, tình yêu...

do vậy thể thơ chủ yêu của ca dao vần là thể lục bát vì nó có khả năng diễn đạt tât thảy những cung bậc cảm xúc như: tình yêu trai gái, tình yêu gia đình, xóm làng, yêu đông ruộng, đât được, yêu lao động, yêu thiên nhiên.... Dân tộc nào cũng có một thể thơ, một điệu nhạc phù hợp với cách điệu cuộc sống của dân tộc đó. Lục bát là thê thơ hài hoà với nhịp đập của con tim, nếp nghĩ, cách sinh hoạt của người dân Việt Nam. Ca dao, tiếng nói mang đầy âm sắc dân tộc cũng được chuyên tải băng lục bát. Việc sáng tạo thê thơ độc đáo này thể hiện đời sống tinh thần phong phú của người bình dân, rất nhiều nhà thơ thành công nhờ thể thơ này. Những truyện thơ vĩ đại nhất của Việt Nam như Truyện Kiều, Lục Vân Tiên đều được thể hiện bằng hình thức thơ Lục bát. Sau này các nhà thơ hiện đại cũng đã rất thành công khi vận dụng thể lục bát trong các sáng tác của mình. Nguyễn Bính, Đồng Đức Bốn tiêu biểu cho dòng lục bát dân gian. Dòng lục bát trí tuệ có thể xem Lửa thiêng của Huy Cận trong phong trào Thơ Mới là thành tựu mở đầu. Dòng lục bát hiện đại có Bùi Giáng, Nguyễn Duy, Tố Hữu...

Bởi cái chất duyên dáng, kín đáo, không ồn ào của lối nghĩ phương Đông, lục bát đã giữ cho mình luôn có cái vẻ nên nã. Ngày nay thể lục bát vẫn là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam.

Coi thêm tại :
Thuyết minh về thể thơ lục bát