Thứ Bảy, 25 tháng 3, 2017

Tổng Hợp tất cả các đề văn thuyết minh từ 6 đến lớp 10

Tổng hợp tất cả các đề bài văn thuyết minh hiện nay. Giúp các bạn có những bài văn thuyết minh hay nhất dành cho mình. Nếu thiếu, bạn có thể cmt phía dưới để mình bổ sung bài viết trong thời gian sớm nhất các bạn nhé.

Để có được những bài văn thuyết minh hay nhất bạn có thể tham khảo 2 bài viết này của mình nhé.

Làm thế nào để viết được một bài văn thuyết minh hay?

MỘT BÀI VĂN HAY CẦN “HỘI ĐỦ” NHIỀU YẾU TỐ

Còn dưới đây là tất cả các đề văn để các bạn tham khảo. Lưu ý, tất cả các đề văn đều có nhiều bài khác nhau để bạn tham khảo nhé.

Mình không phân ra văn thuyết minh lớp 6, văn thuyết minh lớp 7, văn thuyết minh lớp 8, văn thuyết minh lớp 9, văn thuyết minh lớp 10, ... nhưng mình phân theo các chủ đề văn thuyết minh để các bạn có thể dễ dàng tìm hiểu.

Thuyết minh về Di tích Lịch Sử

Trải qua 1 ngàn năm đô hộ của các nước phong kiến phương bắc cùng với những trận chiến ác liệt từ thời phong kiến cho tới chiến tranh thế giới thứ nhất, thứ 2. Nước ta đã đánh bại không biết bao nhiêu kẻ thù xâm lược. Những địa điểm, di tích lịch sử cũng từ đó mà hình thành. Cùng với lịch sử dân tộc, thuyết minh về một di tích lịch sử sẽ giúp a các bạn hiểu thêm về lịch sử của dân tộc ta.

Thuyết Minh về Danh Lam Thắng Cảnh

Thuyết Minh về một trò chơi dân gian

Với những đứa trẻ ở nông thôn luôn gắn liền với những trò chơi dân gian. Khi lớn lên, ta sẽ có được những kỷ niệm không thể quên về thời thơ ấu.

Thuyết minh về Món Ăn Dân Tộc

Món ăn dân tộc tùy thuộc vào từng khu vực. Ví dụ như miền bắc chúng ta có món bánh chưng ngày tết là không thể thiếu. Còn miền nam thì có bánh tét. Mỗi vùng miền lại có một món ăn đặc trưng cho khu vực đó. Bạn có thể lựa từng bài thuyết minh về món ăn dân tộc để thích hợp với khu vực của mình nhé.

Thuyết minh về một giống vật nuôi

  • Thuyết Minh về Con Trâu
  • Thuyết Minh về Con Chó
  • Thuyết Minh Về Con Mèo

Thuyết minh về Đồ Vật

  • Thuyết minh về kinh đeo mắt – Dàn Bài Thuyết Minh về Kinh Đeo Mắt
  • Thuyết minh về áo đồng phục
  • Thuyết minh về phích nước
  • Thuyết minh về Áo Dài Việt Nam
  • Thuyết minh về cây Bút Bi
  • Thuyết Minh về Cái Quạt
  • Thuyết Minh về Nồi Cơm Điện
  • Thuyết Minh về Nón Lá
  • Thuyết Minh về Cây Kéo
  • Thuyết Minh về Đôi Dép Lốp
  • Thuyết Minh về Xe Đạp
  • Thuyết Minh về Cây Diều

Thuyết Minh về Một Loài Cây – Loài Hoa

  • Thuyết minh về Cây Dừa – Dàn Bài Thuyết Minh về Cây Dừa
  • Thuyết Minh về Cây Lúa Nước
  • Thuyết Minh về Cây Tre Việt Nam (sử dụng yếu tố mô tả)
  • Thuyết Minh về Cây Na
  • Thuyết Minh về Cây Thuốc
  • Thuyết Minh về Cây Mai
  • Thuyết Minh về Hoa Sen
  • Thuyết Minh về Cây Phượng
  • Thuyết Minh về Cây Bưởi
  • Thuyết Minh về Cây Mía
  • Thuyết Minh về Cây Chuối
  • Thuyết Minh về Cây Chè Xanh
  • Thuyết Minh về Hoa Ly
  • Thuyết Minh về Quả Bưởi
  • Thuyết Minh về Hoa Hồng
  • Thuyết Minh về Hoa Mai
  • Thuyết Minh về Hoa Đào

Thuyết Minh về Một Thể Loại Văn Học

  • Thuyết Minh về thể loại Thơ Lục Bát
  • Thuyết minh về Truyện Ngắn
  • Thuyết minh về thể thơ Song Thất Lục Bát
  • Thuyết Minh về Thể Thơ Thất Ngôn Tứ Tuyệt

Thuyết minh về một tập truyện hoặc một tác phẩm văn học

  • Thuyết Minh về Truyện Kiều
  • Thuyết Minh về Tấm Cám
  • Thuyết minh Bình Ngô Đại Cáo
  • Thuyết minh về bài phú sông bạch đằng
  • Thuyết Minh về Truyện Lục Vân Tiên
  • Thuyết minh về nữ tướng Lê Chân

Thuyết minh về một tác giả văn học

  • Thuyết Minh về tác giả Nguyễn Du
  • Thuyết Minh về Tác Giả Nguyễn Trãi
  • Thuyết Minh về Phạm Ngủ Lão
  • Thuyết Minh về Nguyễn Đình Chiểu

Một số đề văn thuyết minh khác có thể bạn chưa biết

  • Thuyết Minh về ruộng bậc thang
  • Thuyết Minh về Uống Nước Nhớ Nguồn
  • Thuyết Minh về Khăn Quảng Đỏ
  • Thuyết Minh về Lễ Hội Đua Thuyền
  • Thuyết Minh về Lễ Hội Chọi Trâu
  • Thuyết Minh về Ngôi Trường

Coi nguyên bài viết ở :
Tổng Hợp tất cả các đề văn thuyết minh từ 6 đến lớp 10

Thuyết minh về cây bưởi

Thuyết minh về một loài cây ăn quả (Cây chuối)

Thuyết minh về một loài cây ăn quả (Cây chuối) văn 9

Trong đời sống của những người nông dân nơi làng quê, hình ảnh cây chuối đã trở nên hết sức quen thuộc và mang nhiều ý nghĩa. Cùng với cây tre, cây chuối có lẽ chính là người bạn thân thiết nhất đối với tất cả những người con nơi làng quê.

Chuối là một loại cây thường mọc thành bụi và được trồng rất nhiều trong vườn. Ở nông thôn, hầu như nhà nào cũng trồng những cây chuối bởi rất nhiều những lợi ích của nó. Thân cây chuối có hình trụ và được tạo thành bởi rất nhiều những bẹ lá hình vòng cung có màu trắng xanh. Nhìn thân cây chuối cao to như vậy, thế nhưng kết cấu bên trong của cây chuối thì rất rỗng và xốp. Do đó, khi còn về nhà bà nội ở quê, em vẫn thường dùng cây chuối làm phao bơi để bám vào mỗi lần đi học bơi là nhờ đặc điểm ấy. Thân chuối thường bao giờ cũng có lớp bẹ ngoài có màu đậm hơn nhiều so với những lớp bên trong. Do tác động của thời tiết, lớp bẹ ngoài ấy thường có màu ngả nâu như lớp áo bảo vệ cả thân cây. Lá chuối rất to. Hai mặt của lá chuối có màu không đều nhau cho lắm. Mặt trên của lá có màu đậm hơn so với mặt trên có tác dụng nhận lấy ánh mặt trời để tạo thành chất diệp lục.

Còn mặt dưới thì nhạt màu hơn. Trên tàu lá, những đường gân mọc chi chít theo thứ tự nhất định, đều tăm tắp. Những tàu lá chuối không hề mọc cùng một phía mà mọc theo nhiều hướng khác nhau, vươn ra khắp mọi nơi như bàn tay để hứng lấy nắng, lấy gió thiên nhiên. Chuối là một loại cây ăn quả phát triển khá nhanh. Do vậy, chỉ sau khoảng 2- 3 tháng, cây chuối đã bắt đầu trổ hoa. Có lẽ trong chúng ta, ai cũng đã từng được nhìn thấy hoa chuối rồi. Nhìn từ xa, trông chúng như những ngọn lửa thắp sáng trên những thân cây chuối màu xanh. Hoa chuối có hình thoi, cũng được tạo thành bởi rất nhiều những lớp áo có màu đỏ tía. Mỗi lớp đều ôm ấp những đài họa bé tí xíu chỉ bằng ngón tay út của chúng ta mà thôi. Chính những đài hoa bé nhỏ này sau này sẽ trở thành những nải chuối thơm ngon. Chuối cũng là loại cây có khả năng thích nghi rất cao, lại nhanh có quả ăn. Do đó, cây chuối cũng được rất nhiều người trồng trong những khu vườn của từng gia đình.

Chuối cũng là một loại cây có rất nhiều những công dụng to lớn. Hầu như các bộ phận ở trên cây chuối đều có thể sử dụng được. Quả chuối là một loại quả rất giàu chất dinh dưỡng cả với chuối xanh và chuối chín. Chuối xanh dùng để ăn cắt lát với những món như thịt ếch, dê, bò,…chuối chín có rất nhiều những chất dinh dưỡng năm trong nó. Lõi thân cây chuối và hoa chuối có thể dùng để làm rau sống ăn rất ngon và mát. Lá chuối có thể dùng để gói và bọc thực phẩm. Với những người chăm làm đẹp, hẳn chúng ta đã từng có ít nhất một lần dùng chuối xay nhuyễn để đắp mặt nạ, dưỡng da.

Tất cả những bộ phận trê cây chuối hầu như chúng ta đều có thể sử dụng chúng được. Đó chính là những đặc điểm mà không phải loại cây nào cũng có thể làm được. Thế mới biết, giá trị của cây chuối lớn như thế nào.

Trong đời sống văn hóa, cây chuối cũng được so sánh, liên tưởng tới rất nhiều những hình ảnh. “ mẹ già như chuối chín cây”. Hình ảnh của những cây chuối đang có quả chín. Mẹ phải hi sinh rất nhiều để chăm lo cho con cái có một cuộc sống tốt đẹp. Thế nên, khi những buồng chuối chín dần thì thân cây lại càng thêm khô héo cũng như người mẹ nuôi con, cho tới khi con cái được lớn khôn trưởng thành thì cũng là lúc mẹ đã già đi, không còn được như ngày nào nữa. Đó chính là sự liên tưởng tương đồng của những người mẹ và cây chuối. Hay như trong những bức tranh của các danh hoa thì hình ảnh của cây chuối luôn được người họa sĩ ưu ái để đưa vào trong những đứa con của mình.

Tóm lại, cây chuối là một loại cây vô cùng hữu dụng và có rất nhiều những giá trị trong nó. Không chỉ giúp cho chúng ta có được thu nhập mà chúng còn giúp nuôi dưỡng tâm hồn của mỗi người chúng ta để chúng ta biết thêm nhiều hơn về cuộc sống.

Xem bài nguyên mẫu tại :
Thuyết minh về một loài cây ăn quả (Cây chuối)

Thuyết minh về cây chuối bài 1

Đất nước Việt Nam ta được thiên nhiên ban tặng cho rất nhiều loại trái cây thơm ngon. Mỗi loài mang một hương vị khác nhau, một hình dáng khác nhau. Và có lẽ về sự dẻo thơm thì chuối là loại quả thơm ngon nhất trong số tất cá các loại hoa quả. Ngoài ra, cây chuối còn rất nhiều tác dụng trong đời sống Việt Nam.
Chuối được trồng rất nhiều ở nông thôn và rất ưa nước nên người ta thường trồng bên ao hồ rất nhanh tươi tốt; còn ở rừng, bên những khe suôi hay thung lũng, chuối mọc thành rừng bạt ngàn, vô tận. Chuối phát triển rất nhanh. Chuối có gốc tròn như đầu người, lớn dần theo thời gian, có rễ chùm nằm dưới mặt đất. Thân chuối thuôn, thẳng, có màu xanh rì là do từng lớp lá mọc đè lên nhau thành từng lớp, từng lớp, bao trùm cái ruột rỗng bên trong. Lá chuối mọc thành từng tàu, to bản. Mỗi cây chuối đều cho một buồng chuối. Có buồng chuối trăm quả và nhiều hơn thế. Không thiếu những buồng chuối dài từ ngọn cầy uốn trĩu xuống tận gốccây. Chuối chặt theo nải. Quả chuối có nhiều hình dạng tuỳ thuộc vào từng loại khác nhau. Ví dụ: chuối ta có dáng thuôn dài, vỏ xanh; còn chuối tiêu quả căng tròn, vỏ mỏng, thịt dày, vỏ vàng. Ngoài ra còn có chuối hương, chuối ngự. chuối sứ, chuối mường...
Trong đời sống vật chất của con người Việt Nam thì chuối là một loài cây hữu dụng từ thân đến lá, từ gốc đến hoa, quả. Thân chuối rồng nên người xưa hay dùng thay phao, ngoài ra còn làm thức ăn cho gia súc. Lá chuối tươi rửa sạch dùng để gói xôi, bánh giầy, bánh cốm, bánh chưng... và một trò chơi dân gian mà trẻ con hay chơi là cưỡi ngựa. Lá chuối khô cũng dùng để gói bánh gai hay cuộn chặt thay nút chai khá tốt. Bắp chuối thì chẻ ngọn nhỏ làm nộm, tương tự với nõn chuối làm rau sống hay ăn kèm với bún ốc, bún riêu. Trái chuối xanh hay được nấu cùng các thức ăn có vị tanh như ốc, lươn,... vừa khử tanh lại vừa làm cho món ăn thêm ngon, thêm đa dạng. Trái chuối chín là một thức quả được nhiều người ưa chuộng.
Cây chuối cho ta thật nhiều công dụng, không chỉ trong đời sống vật chất mà còn ởđời sống tinh thần: cây chuối là biểu tượng cho làng quê Việt Nam. Nải chuối chín không thể thiếu trong các mâm cúng trời, đất, tổ tiên. Cây chuối gắn liền với cuộc sông nông thôn, với đất nước, dân tộc ta.
Cây chuối gắn bó từ bao đời nay và đã dâng hiến tất cả cho con người Việt Nam, từ đời sống vật chất cho tới đời sống tinh thần. Cây chuối là niềm tự hào không chỉ của thiên nhiên, của đất mẹ mà còn của nông dân Việt Nam; cây chuối sẽ mãi là hình ảnh đẹp trong lòng mọi người.

Bài 4
Cây chuối là 1 loài cây dân dã gần gũi quen thuộc với người dân quê.Người ta có thể trống chuối ở bờ ao,trong vườn nhà,ở ruông,hay những vùng đất bãi phù sa thì càng tốt.Cây chuối trưởng thành từ 2-3m.Thân cây có dáng tròn,thằng màu xanh non trông như 1 cái cột trụ mọng nước,gợi cảm giác mát mẻ,dễ chịu.Thân chuối đc tạo thành bởi lớp bẹ xếp khít vào nhau,bên trong hơi xốp.Lá chuối đc mọc ra từ các bẹ ở thân chuối và giữa ngọn trở ra.Ban đầu những chiếc nõn chuối màu xanh non,sau đó lá xòa dần mọc chìa ra các phía.Ở giữa là 1 đường gân lá,2 bên lá mềm mại rủ xuống khoảng 20cm.Chiều dài của là cũng hơn 1m .Nhìn Những chiếc lá chuối xanh rờn dưới ánh nắng mỗi khi có gió lại vẫy vẫy như những cánh tay trông thật đẹp mắt.Còn lá chuối khô,cành lá đều rủ xuống chuyển nâu thành giòn,còn đường gân giữa dẻo dai như sợi dây.Cây chuối trưởng thành bắt đầu trổ buồng.Mỗi cây chuỗi đều cho 1 buồng,mỗi buồng lại có nhiều nải,mỗi nải lại có nhiều quả.tùy theo từng giống,có giống cho hàng trăm quả 1 buồng,có giống cho đến nghìn quả.nhiều cây quả còn trĩu xuông tận gốc.Buồng chuối cũng mọc từ giữa thân ra.Bắp chuối có màu đỏ,còn gọi là hoa chuối.Hoa chuối giống như ngọn lửa màu hồng,sau đó những chiếc bẹ nở dần ra rụng xuống là lúc những nải chuối non xuất hiện.Quả chuối lớn dần hơi cong hình lưỡi liềm,khi xanh có có màu xanh,khi chín có màu vàng.

Có rất nhiều loại chuối khác nhau,người ta gọi tên theo đặc điểm hoặc nguồn gốc suất sứ hay cũng có khi gắn với giai thoại nào đó.Các loại chuối phổ biến như chuối hương,chuối ngự,chuối hột...Mỗi loại chuối đều có đặc điểm,mùi hương thơm ngon riêng,tạo ra nét đặc biệt không thể lẫn với các loại khác,nổi tiếng nhất có lẽ là chuối ngự đc trồng ở nam định.Loại chuối này quả nhỏ chín có màu vàng tươi thơm ngon.Ngày xưa đc dùng vào cung tiến vua.

Cây chuối có ý nghĩa to lớn trong cả đời sống vật chất và tinh thần.Về giá trị vật chất,quả chuối xanh có thể ăn với thịt dê,ăn gỏi,kho cá hay nấu với ốc,ếch đều rất ngon.Chuối chín có rất nhiều vitamin rất tốt cho sức khỏe.Từ người giàu đến người nghèo,từ già tới trẻ đều thích ăn chuối.Ngày xưa chuối là loại quả quí thường để tiến vua.Ngày nay nó rất thông dụng đc bày trong các mâm cỗ.Chuối còn mang lại giá trị kinh tế cho người nông dân và con phúc vụ xuất khẩu.Đây là 1 trong những loại quả đc sử dụng nhiều nhất ở châu Âu vì nó là loại quả không chỉ ngon mà còn sạch.Thân cây chuối thái ra có thể làm thức ăn cho lợn,trâu bò rất tốt.Thân chuối non có thể dùng gói xôi,bánh nem rất tiện lợi...lá chuối khô có thể dùng lầm chất đốt.Dây chuối dùng để bó rau bó rơm.Hoa chuối có thể dùng làm nộm hoặc để luộc.Củ chuôí cũng có thể làm nộm hoặc nấu lươn,ốc,ếch rất ngon.về gtri tinh thần,quả chuối có gtri to lớn trong đời sống VH của người dân VN.Người ta dùng chuối nguyên nải thắp hương trong các dịp lễ tết hay giỗ để thể hiện lòng tôn kình.Chuối là loại quả không thể thiêu trong mâm ngũ quả để lên tổ tiên,ngày lễ lớn.trong tiềm thức mỗi người cây chuối tượng trưng cho sự thanh bình của làng quê.

Chuối là loại cây khá dễ sống ưa đất phù sa,đát bãi ven sông.Quá trình sinh trưởng của 1 cây chuối không dài,khoảng 1 năm.Mỗi cây chuối chỉ 1 làn trổ buồng,sau khi thu hoạch người ta chặt cây đào gốc lên để cho cây con phát triển.một cây chuối mẹ có thể đẻ nhiều cây chuối con rồi đẻ nhiều cây chuối cháu,sinh trưởng rất nhanh.Vì dễ troongflaij nhanh cho quả nên chuối đc người nông dân ưa chuộng.nếu không may chuối bị sâu có thể cắt bỏ lá sâu,bắt sâu.Neus chuối ra buồng cần phải chống cho cây khỏi đổ.Khi thu hoạch cần phải nhẹ nhàng tránh rơi gẫy.

Cây chuối từ lâu đã có 1 vị trí quan trọng trong cuộc sống của người VN.CHo dù cuộc sống có đổi thay hiện đại hơn nhiều,xuất hiện nhiều loại quả ngon nhưng vẫn không thể thay thế đc cây chuối quả chuối trong đời sống vật chất tinh thần của con người bở nó có quá trình gắn bó gần gũi thân thiết trong đời sống con người.

Nguon - http://ift.tt/2og2OcI

Coi bài nguyên văn tại :
Thuyết minh về cây chuối bài 1

Thuyết minh về nồi cơm điện

Ý tưởng về việc dùng điện để nấu cơm lần đầu xuất hiện vào giai đoạn Âu hóa của thời kỳ Meiji. Cuối thời Taisho (giữa thập niên 1920), người ta đã bắt đầu sản xuất thử nghiệm bếp lò điện và nồi cơm điện.

Cuối thập niên 1940, công ty điện tử Mitsubishi đã sản xuất ra một loại nồi cơm điện. Thực chất, đó chỉ là một chiếc nồi có gắn thêm dây điện truyền nhiệt không có chức năng tự động. Nó chỉ đơn giản là một chiếc nồi nấu cơm nhờ sức nóng truyền từ dây điện thay vì nấu trên bếp củi hay bếp gas. Thiết bị này rất bất tiện, đòi hỏi người sử dụng phải chú ý theo dõi nó từ khi bật công tắc nấu cho đến khi cơm được nấu xong. Vậy nên, số lượng sản phẩm bán ra rất chậm. Thay vì được xem là bước đi tiên phong cho chiếc nồi cơm điện hiện đại, nó lại bị xem như là dấu chấm hết cho lịch sử các thiết bị điện.

Năm 1952, công ty điện tử Matsush*ta cũng đưa ra một sản phẩm cùng loại với Mitsubishi với kết quả tương tự. Sony cũng chẳng khá hơn.Vào khoảng tháng 7/1951 với niềm tin rằng các thiết bị điện tử rồi sẽ trở thành một phần trong cuộc sống thường nhật ở Nhật Bản, công ty Toshiba quyết định tiếp tục với thử thách mà các nhà sản xuất hàng đầu như Mitsubishi và Matsush*ta đã thất bại: tạo ra một chiếc nồi cơm điện hoàn chỉnh. Dự án do Shogo Yamada, trưởng phòng phát triển thiết bị điện tử, điều hành.

Toshiba đã tiến hành những cuộc thử nghiệm với gạo và phát hiện ra rằng chỉ cần đun gạo trong 20 phút sau khi nó bắt đầu sôi thì sẽ có nồi cơm chín. Họ cũng nhận thấy rằng gạo bắt đầu chuyển sang dạng tinh bột ở nhiệt độ 57,80C. Ở nhiệt độ này, cần phải mất 15 đến 16 giờ để chuyển 1,5 kg gạo sang dạng tinh bột (cơm).Tiếp tục với các thí nghiệm tăng dần nhiệt độ, nhóm nghiên cứu nhận thấy nếu gạo chuyển sang dạng tinh bột ở 730C. Nó sẽ tiếp tục biến đổi ở nhiệt độ đó. Đây chính là nguyên tắc của chiếc nồi cơm điện cách nhiệt.

Họ tiếp tục đun gạo ở nhiệt độ 900C trong 20 phút, với nhiệt độ này gạo sẽ được chuyển hoàn toàn sang dạng tinh bột. Theo đó, thì trên lý thuyết chỉ cần nấu gạo ở nhiệt độ đó trong 20 phút hẹn giờ là có thể có cơm chín ngon.

Vấn đề là làm thế nào để biết khi nào gạo thực sự bắt đầu sôi, và làm thế nào để có thể tắt nút sau đó đúng 20 phút. Giải pháp là một chiếc nồi hai lớp. Với một cốc nước, nồi sẽ làm lượng nước này bốc hơi trong 20 phút. Khi nước bốc hơi, nhiệt độ nồi sẽ vượt 1000C. Một bộ ổn nhiệt lưỡng kim sẽ nhận biết và tự động tắt công tắc. Hơi nước đã được sử dụng như một bộ phận hẹn giờ, một ý tưởng hết sức đơn giản và độc đáo theo phong cách Nhật Bản.

Tháng 10/1956, khoảng năm năm rưỡi sau khi dự án bắt đầu, 700 chiếc nồi cơm điện được đưa ra thị trường. Các nhà phân phối đã từng biết đến thất bại trước đây của loại sản phẩm này nên họ tỏ ra hết sức e ngại.Trước tình hình đó, Toshiba đã tự tạo một hệ thống phân phối mới. Lúc đó, tình trạng sản xuất điện dư thừa đang đặt các công ty điện lực vào một tình thế khó khăn. Toshiba đã đề nghị Vonfram giúp làm nhà phân phối cho sản phẩm nồi cơm điện tự động và họ đã vui vẻ hợp tác. Các nhân viên cùng với chiếc nồi cơm điện đã đi đến tận các hộ gia đình để giới thiệu và bán sản phẩm.Nhờ những nỗ lực như vậy, sản phẩm đã bắt đầu bán chạy. Một thời gian ngắn sau đó, công ty đã phải tăng sản lượng lên 200.000 chiếc một tháng. Bốn năm sau, nồi cơm điện đã có mặt ở 50% các gia đình Nhật Bản. Năm 1970, chiếc nồi cơm điện tiện dụng này đã có mặt trong nhà bếp của các bà nội trợ trên toàn thế giới.

Nồi cơm điện được cấu tạo bởi một bếp điện và các linh kiện điện tử tắt tự động. Cơm chín do sức nóng của mâm lửa đặt trong nồi. Vì vậy, nếu không chú ý bảo quản đúng cách, nồi dễ bị hỏng. Chọn mua nồi Khi mua, bạn yêu cầu nơi bán cắm điện để thử các bóng đèn (nấc đun, cạn cơm) để xem xét nồi hoạt động tốt hay không. Yêu cầu mở vít đáy nồi, xem có chỗ nào rỉ sét không. Nhìn đáy nồi nếu thấy không còn bằng phẳng là đồ cũ. Nếu ưng bên trong thì tiếp tục xem bên ngoài có bị trầy xước không. Theo kinh nghiệm của nhiều bà nội trợ, nồi cơm điện Trung Quốc giá rẻ nhưng men chống dính kém bền, chỉ dùng vài ba lần đã bị tróc. Sử dụng Phải lau khô mặt ngoài của nồi trước khi đặt vào vỏ để giữ sạch đĩa nhiệt và bộ cảm ứng nhiệt, đồng thời tránh tiếng kêu khi cấp nhiệt. Nồi có một lỗ thoát hơi ở trên vùng nên phải giữ cho lỗ thông thoáng, không bịt kín. Khi nấu, bạn không mở nắp. Khi cho gạo đã vo sạch vào nồi, nhớ dàn đều mặt gạo để cơm chín đều. Muốn cơm tơi khi nồi chuyển chế độ giữ ấm, hãy mở nắp nồi và xới nhanh, sau đó đậy lại. Không nên để chế độ hâm cơm quá 12 giờ. Để lâu, cơm biến màu và kém thơm ngon. Khi vệ sinh nồi phải làm cả vỏ, lưu ý không dùng vật nháp cứng, dùng giẻ mềm. Ngâm nồi một chút trong chậu nước ấm rồi rửa, tránh cọ xát làm trầy xước lớp men chống dính. Dùng muỗng nhựa hoặc gỗ xúc cơm. Có thể dùng nồi cơm điện luộc rau, nấu canh nhưng không hầm thức ăn vì nồi sẽ mau hỏng. Không xào thức ăn bằng nồi cơm điện vì bộ phận kiểm soát sẽ ngắt mạch. Nếu cơm sống, có thể mở đáy nồi, chỉnh ốc nhiệt độ cho 2 mặt công tắc điện sát nhau hơn. Nhưng nếu chỉnh quá sát 2 mặt công tắc điện, cơm sẽ bị khét. Có thể thử bằng cách cho một ít nước vào nồi, đun lên rồi điều chỉnh. Khi nước vừa cạn, hai mặt công tắc điện cũng vừa rời xa nhau. Sửa chữa Với loại nồi có dây điện trở quấn trên lõi mica (hình vành khăn tròn), khi dây điện đứt có thể nối, thay mới khá dễ. Loại nồi có dạng thanh điện trở, trong ống hợp kim và manhê hỏng, đứt thì phải thay đáy mới. Nồi bị chạm điện, mát vỏ cần ngưng dùng. Nếu dây cháy hay vỡ công tắc nguồn thì phải thay mới. Nếu do ướt bị chạm thì có thể dùng máy sấy tóc làm khô dây hay chỗ bị ướt. Cầu chì bảo vệ nồi có thể bị cháy do phích cắm lỏng hoặc dây dẫn bị chập bên trong, cần kiểm tra kỹ để thay cái mới

Tham khảo bài gốc ở :
Thuyết minh về nồi cơm điện

Thuyết minh về nồi cơm điện

Nồi cơm điện được cấu tạo bởi một bếp điện và các linh kiện điện tử tắt tự động. Cơm chín do sức nóng của mâm lửa đặt trong nồi. Vì vậy, nếu không chú ý bảo quản đúng cách, nồi dễ bị hỏng. Chọn mua nồi Khi mua, bạn yêu cầu nơi bán cắm điện để thử các bóng đèn (nấc đun, cạn cơm) để xem xét nồi hoạt động tốt hay không. Yêu cầu mở vít đáy nồi, xem có chỗ nào rỉ sét không. Nhìn đáy nồi nếu thấy không còn bằng phẳng là đồ cũ. Nếu ưng bên trong thì tiếp tục xem bên ngoài có bị trầy xước không. Theo kinh nghiệm của nhiều bà nội trợ, nồi cơm điện Trung Quốc giá rẻ nhưng men chống dính kém bền, chỉ dùng vài ba lần đã bị tróc. Sử dụng Phải lau khô mặt ngoài của nồi trước khi đặt vào vỏ để giữ sạch đĩa nhiệt và bộ cảm ứng nhiệt, đồng thời tránh tiếng kêu khi cấp nhiệt. Nồi có một lỗ thoát hơi ở trên vùng nên phải giữ cho lỗ thông thoáng, không bịt kín. Khi nấu, bạn không mở nắp. Khi cho gạo đã vo sạch vào nồi, nhớ dàn đều mặt gạo để cơm chín đều. Muốn cơm tơi khi nồi chuyển chế độ giữ ấm, hãy mở nắp nồi và xới nhanh, sau đó đậy lại. Không nên để chế độ hâm cơm quá 12 giờ. Để lâu, cơm biến màu và kém thơm ngon. Khi vệ sinh nồi phải làm cả vỏ, lưu ý không dùng vật nháp cứng, dùng giẻ mềm. Ngâm nồi một chút trong chậu nước ấm rồi rửa, tránh cọ xát làm trầy xước lớp men chống dính. Dùng muỗng nhựa hoặc gỗ xúc cơm. Có thể dùng nồi cơm điện luộc rau, nấu canh nhưng không hầm thức ăn vì nồi sẽ mau hỏng. Không xào thức ăn bằng nồi cơm điện vì bộ phận kiểm soát sẽ ngắt mạch. Nếu cơm sống, có thể mở đáy nồi, chỉnh ốc nhiệt độ cho 2 mặt công tắc điện sát nhau hơn. Nhưng nếu chỉnh quá sát 2 mặt công tắc điện, cơm sẽ bị khét. Có thể thử bằng cách cho một ít nước vào nồi, đun lên rồi điều chỉnh. Khi nước vừa cạn, hai mặt công tắc điện cũng vừa rời xa nhau. Sửa chữa Với loại nồi có dây điện trở quấn trên lõi mica (hình vành khăn tròn), khi dây điện đứt có thể nối, thay mới khá dễ. Loại nồi có dạng thanh điện trở, trong ống hợp kim và manhê hỏng, đứt thì phải thay đáy mới. Nồi bị chạm điện, mát vỏ cần ngưng dùng. Nếu dây cháy hay vỡ công tắc nguồn thì phải thay mới. Nếu do ướt bị chạm thì có thể dùng máy sấy tóc làm khô dây hay chỗ bị ướt. Cầu chì bảo vệ nồi có thể bị cháy do phích cắm lỏng hoặc dây dẫn bị chập bên trong, cần kiểm tra kỹ để thay cái mới

Coi thêm ở :
Thuyết minh về nồi cơm điện

Giới thiệu về nồi cơm điệm

Ý tưởng về việc dùng điện để nấu cơm lần đầu xuất hiện vào giai đoạn Âu hóa của thời kỳ Meiji. Cuối thời Taisho (giữa thập niên 1920), người ta đã bắt đầu sản xuất thử nghiệm bếp lò điện và nồi cơm điện.

Cuối thập niên 1940, công ty điện tử Mitsubishi đã sản xuất ra một loại nồi cơm điện. Thực chất, đó chỉ là một chiếc nồi có gắn thêm dây điện truyền nhiệt không có chức năng tự động. Nó chỉ đơn giản là một chiếc nồi nấu cơm nhờ sức nóng truyền từ dây điện thay vì nấu trên bếp củi hay bếp gas. Thiết bị này rất bất tiện, đòi hỏi người sử dụng phải chú ý theo dõi nó từ khi bật công tắc nấu cho đến khi cơm được nấu xong. Vậy nên, số lượng sản phẩm bán ra rất chậm. Thay vì được xem là bước đi tiên phong cho chiếc nồi cơm điện hiện đại, nó lại bị xem như là dấu chấm hết cho lịch sử các thiết bị điện.

Năm 1952, công ty điện tử Matsush*ta cũng đưa ra một sản phẩm cùng loại với Mitsubishi với kết quả tương tự. Sony cũng chẳng khá hơn.

Vào khoảng tháng 7/1951 với niềm tin rằng các thiết bị điện tử rồi sẽ trở thành một phần trong cuộc sống thường nhật ở Nhật Bản, công ty Toshiba quyết định tiếp tục với thử thách mà các nhà sản xuất hàng đầu như Mitsubishi và Matsush*ta đã thất bại: tạo ra một chiếc nồi cơm điện hoàn chỉnh. Dự án do Shogo Yamada, trưởng phòng phát triển thiết bị điện tử, điều hành.

Toshiba đã tiến hành những cuộc thử nghiệm với gạo và phát hiện ra rằng chỉ cần đun gạo trong 20 phút sau khi nó bắt đầu sôi thì sẽ có nồi cơm chín. Họ cũng nhận thấy rằng gạo bắt đầu chuyển sang dạng tinh bột ở nhiệt độ 57,80C. Ở nhiệt độ này, cần phải mất 15 đến 16 giờ để chuyển 1,5 kg gạo sang dạng tinh bột (cơm). Tiếp tục với các thí nghiệm tăng dần nhiệt độ, nhóm nghiên cứu nhận thấy nếu gạo chuyển sang dạng tinh bột ở 730C. Nó sẽ tiếp tục biến đổi ở nhiệt độ đó. Đây chính là nguyên tắc của chiếc nồi cơm điện cách nhiệt.

Họ tiếp tục đun gạo ở nhiệt độ 900C trong 20 phút, với nhiệt độ này gạo sẽ được chuyển hoàn toàn sang dạng tinh bột. Theo đó, thì trên lý thuyết chỉ cần nấu gạo ở nhiệt độ đó trong 20 phút hẹn giờ là có thể có cơm chín ngon.

Vấn đề là làm thế nào để biết khi nào gạo thực sự bắt đầu sôi, và làm thế nào để có thể tắt nút sau đó đúng 20 phút. Giải pháp là một chiếc nồi hai lớp. Với một cốc nước, nồi sẽ làm lượng nước này bốc hơi trong 20 phút. Khi nước bốc hơi, nhiệt độ nồi sẽ vượt 1000C. Một bộ ổn nhiệt lưỡng kim sẽ nhận biết và tự động tắt công tắc. Hơi nước đã được sử dụng như một bộ phận hẹn giờ, một ý tưởng hết sức đơn giản và độc đáo theo phong cách Nhật Bản.

Tháng 10/1956, khoảng năm năm rưỡi sau khi dự án bắt đầu, 700 chiếc nồi cơm điện được đưa ra thị trường. Các nhà phân phối đã từng biết đến thất bại trước đây của loại sản phẩm này nên họ tỏ ra hết sức e ngại.

Trước tình hình đó, Toshiba đã tự tạo một hệ thống phân phối mới. Lúc đó, tình trạng sản xuất điện dư thừa đang đặt các công ty điện lực vào một tình thế khó khăn. Toshiba đã đề nghị Vonfram giúp làm nhà phân phối cho sản phẩm nồi cơm điện tự động và họ đã vui vẻ hợp tác. Các nhân viên cùng với chiếc nồi cơm điện đã đi đến tận các hộ gia đình để giới thiệu và bán sản phẩm. Nhờ những nỗ lực như vậy, sản phẩm đã bắt đầu bán chạy. Một thời gian ngắn sau đó, công ty đã phải tăng sản lượng lên 200.000 chiếc một tháng. Bốn năm sau, nồi cơm điện đã có mặt ở 50% các gia đình Nhật Bản. Năm 1970, chiếc nồi cơm điện tiện dụng này đã có mặt trong nhà bếp của các bà nội trợ trên toàn thế giới.

Xem nguyên bài viết tại :
Giới thiệu về nồi cơm điệm

Thuyết minh về món canh chua cá lóc

Đề bài: Em hãy thuyết minh về món canh chua cá lóc nổi tiếng ở quê hương em.

 Việt Nam là một đất nước nhỏ nhưng vô cùng tươi đẹp với bao truyền thống dựng nước, giữ nước; với những phong tục tập quán đặc sắc, bản sắc dân tộc độc đáo được hình thành qua hàng nghìn năm lịch sử; âm nhạc mang phong cách dân tộc độc đáo. Ngoài ra, một trong những đặc trưng của dân tộc Việt Nam để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng du khách mỗi khi đến thăm, đó chính là nền ẩm thực đặc sắc. Nền ẩm thực Việt Nam nổi tiếng không phải bởi những món “sơn hào hải vị”, những món ăn được làm bằng những nguyên liệu cao cấp. Đặc sắc trong ẩm thực Việt Nam chính từ những thứ bình dị, những loại nguyên liệu dân giã, đời thường. Một trong những món ăn trong bữa ăn hàng ngày của người dân Việt, đó chính là món canh chua cá lóc. Món canh chua cá lóc tuy vô cùng bình dị nhưng lại mang cái độc đáo, một vị ngon khác lạ mà những món ăn cầu kì, đắt tiền khác khó có thể sánh được.

Món canh chua cá lóc là một món ăn phổ biến, quen thuộc mà nếu là người Việt Nam thì đều đã từng được thưởng thức. Món canh chua cá lóc được chế biến khá đơn giản với những nguyên liệu dễ tìm trong cuộc sống nhưng lại đòi hỏi sự kì công, tay nghề của người nấu, bởi chỉ có thế mới mang lại món canh chua cá lóc ngon đúng vị của dân tộc. Canh chua cá lóc là món ăn thường thấy trong bữa cơm hàng ngày của người Việt, đặc biệt trong những ngày hè nóng bức, một bát canh chua cá lóc có thể thổi bay cái nóng ngày hè, mang lại cảm giác ngon miệng, thoải mái khi dùng cơm. Món canh chua cá lóc phổ biến ở khắp các vùng miền ở Việt Nam, từ Bắc chí Nam đều quen thuộc với hương vị này.

Tuy nhiên, do đặc điểm về ẩm thực, cũng như khẩu vị của mỗi miền mà món canh chua cá lóc được chế biến với những cách thức khác nhau, nguyên liệu khác nhau, cách nêm thêm những gia vị cũng tùy thuộc vào sở thích ăn uống của mỗi người. Canh chua cá lóc được chế biến với những nguyên liệu như: cá lóc hay ở miền Bắc còn được gọi là cá quả hay cá chuối. Đây là loại nguyên liệu quan trọng nhất của món canh chua, làm nên hương vị của món ăn, ngoài ra còn có các nguyên liệu khác quan trọng không kém như: cà chua, me, hành lá, rau mùi hay còn gọi là ngò gai, gừng, tỏi để ướp cá. Các gia vị như: muối, hạt nêm, bột ngọt, nước mắm. Để nấu thành công món canh chua cá lóc, ta cũng phải làm các bước sau. Bước đầu tiên là làm sạch và ướp cá. Để cá có thể ngấm gia vị và khử đi mùi tanh vốn có của cá, người ta thường cho cá vào ướp với gừng, tỏi, muối, hạt nêm và bột ngọt. Cá có thể được cắt thành từng khoanh nhỏ hoặc để cả con, tùy theo sở thích của mỗi gia đình.

Bước thứ hai là cho mỡ lên bếp, phi hành cho vàng thơm thì cho thêm những quả cà chua thái lát để tăng thêm vị chua cũng như tạo cho bát canh chua cá lóc có màu sắc bắt mắt. Sau khi cho cà chua, ta đảo đều tay, sau đó cho thêm nước dùng, lượng nước cũng tùy thuộc vào sở thích của mỗi người. Sau khi nước dùng đã sôi, ta cho cá đã ướp vào nồi đun cùng, cho thêm những quả me hoặc những quả khế chua để tạo vị chua cho bát canh chua, ở nhiều nơi, món canh chua cá lóc còn được chế biến bởi những ngọn mùng. Tuy nhiên, khi chế biến những ngọn mùng phải hết sức lưu ý, vì nếu không làm cẩn thận thì nó sẽ gây ngứa cho người ăn. Sau khi cho cá vào, ta đun từ bẩy đến mười phút cho cá chín. Lưu ý khi đun cá, ta dùng lửa nhỏ, vì nó sẽ tạo cho món cá vị ngọt thơm hơn.

Khi cá đã chín, ta tắt bếp và cho vào nồi cá những lát hành tươi và những nhánh rau mùi đã chuẩn bị từ ban đầu. Như vậy, chỉ với những thao tác đơn giản, món canh cá lóc thơm ngon đã hoàn thành. Ta có thể bày ra bát và trang trí trên đó những nhánh ngò gai để tăng thêm tính thẩm mĩ cho món ăn. Món canh chua cá lóc có vị thơm bùi của cá lóc, vị chua dịu của nước dùng, mùi thơm của hành tươi và rau mùi làm cho món canh cá lóc trở nên vô cùng tươi ngon, nó có thể hấp dẫn vị giác của mọi người, ngay cả những người khó tính nhất cũng bị nó chinh phục. Một món canh cá lóc thành công không chỉ có hương vị mà còn nằm ở màu sắc đặc trưng của món ăn này.  Nước dùng của món canh chua phải có sắc hồng của những quả cà chua, nó làm cho món ăn trở nên bắt mắt hơn, tươi ngon hơn.

Canh chua cá lóc cũng rất dễ kết hợp với những món ăn khác. Nó có thể được ăn cùng với những món mặn như: trứng, thịt, đậu…. Ngày hè nóng bức, món canh chua cá lóc được ăn với bát cơm trắng thơm dẻo, một món ăn mặn, đặc biệt là món thịt kho tàu thì bữa ăn của gia đình trở nên ngon miệng khác hẳn ngày thường. Những người trong gia đình cùng nhau thưởng thức và chia sẻ với nhau những câu chuyện trong ngày quả là rất tuyệt, nó làm cho không khí gia đình trở lên vui tươi, đầm ấm và gắn kết hơn. Món canh chua cá lóc là một món ăn rất dân giã, bình dị, dễ dàng chế biến và cũng dễ kết hợp với các món ăn khác. Vì vậy nó thường là món ăn mà các gia đình lựa chọn cho mâm cơm của gia đình mình. Nó ngon bởi chính vẻ bình dị của nó, hấp dẫn vị giác bằng chính cái dân giã của nó.

Món canh chua cá lóc là một món ăn mang đậm hồn quê, mang đậm phong cách ẩm thực của người dân Việt Nam. Chỉ cần nghe đến tên canh chua cá lóc, ta đã liên tưởng ngay đến một món ăn dân giã, đời thường. Liên tưởng ngay đến không khí bình dị mà ấm áp nơi làng quê Việt Nam, gợi nhắc đến những bữa cơm gia đình đầm ấm, xum vầy bên nồi cơm của mẹ, đến hình ảnh vui vẻ, hạnh phúc trên khuôn mặt của mỗi thành viên trong gia đình. Cái không khí ấy, hương vị ấy gợi nhắc mỗi người con xa quê nhớ về nơi “chôn nhau cắt rốn” của mình, nơi mình sinh ra, lớn lên.

Tuy ở mỗi vùng miền, món canh chua cá lóc lại được chế biến với những nguyên liệu khác nhau, mang hương vị, màu sắc khác nhau. Song, cái nét chung nhất của món ăn này chính là cái vị chua rất thanh, không hề gắt, mang lại một cảm giác rất dễ chịu, thoải mái cho người thưởng thức. Cá vẫn giữ nguyên được hương vị thơm ngon của thịt cá, không tanh như những món cá thông thường, và dù ở vùng miền nào thì món canh chua cá lóc cũng không thể thiếu được vị rau mùi, hay còn được gọi với một cái tên khác đó chính là ngò gai. Đảm bảo được những yếu tố này thì ta đã có được một món canh cá lóc thành công.

Như vậy, món canh chua cá lóc là một món ăn ngon, một món ăn tiêu biểu và phổ biến trong mâm cơm của người Việt Nam. Nguyên liệu dùng để nấu canh chua cá lóc có thể dễ dàng tìm kiếm trong đời sống, cách nấu cũng rất đơn giản. Vì vậy, sự xuất hiện của món canh chua cá lóc đã trở lên vô cùng phổ biến trong thực đơn hàng ngày của người Việt Nam. Ngày nay, tuy xuất hiện rất nhiều những món ăn mới, ngon hơn, tiện lợi hơn. Song không có món ăn nào có thể thay thế món canh chua cá lóc, bởi nó đã trở thành món ăn  mang bản sắc của dân tộc, của mỗi gia đình.

Coi thêm ở :
Thuyết minh về món canh chua cá lóc

Thuyết minh về món canh chua cá lóc

Cá lóc rửa sạch ướp với muối, bột ngọt, ớt bằm. Đậu bắp, bạc hà rửa sạch xắt xéo. Cà chua xắt múi. Thơm và ớt xắt lát. Me dầm lấy nửa chén nước, nếu là me chín thường đã tách bỏ vỏ, lấy nạc me, dùng khoảng 200g nấu với chừng một chén nước cho tan me, vớt bỏ xác và hột me.

Canh chua dường như đã là một món ăn đậm tính dân tộc của văn hoá ẩm thực Việt Nam từ lâu nay. Món canh tuy dân dã nhưng đầy chất Việt được phân hoá tinh tế và phong phú theo từng vùng miền đặc trưng trải dài cả nước. Ở miền Bắc thì có canh chua sấu, canh chua riêu... Miền Trung thì có canh chua khế, canh chua hến.... Còn miền Nam chắc ai cũng đã từng nghe đến canh chua cá lóc. Một món canh quen thuộc, đậm đà chất Nam Bộ.

Canh chua cá lóc “đúng kiểu” của người miền Nam phải vừa có cả vị chua lẫn vị ngọt. Có vị chua nhưng không được chua quá, có vị ngọt nhưng cũng không được ngọt quá, vị chua phải là vị chủ đạo, vị ngọt vừa phải. Hai vị này hòa quyện vào nhau sẽ tạo nên một món canh có hương vị rất lạ và rất ngon.

Nguyên liệu để làm món này gồm: cá lóc, cây bạc hà, cà chua, trái đậu bắp, trái thơm, giá, me, rau om, ngò gai, ớt sừng, tỏi, sả bằm. Gia vị: đường, muối, nước mắm, dầu ăn, bột ngọt.

Cá lóc rửa sạch ướp với muối, bột ngọt, ớt bằm. Đậu bắp, bạc hà rửa sạch xắt xéo. Cà chua xắt múi. Thơm và ớt xắt lát. Me dầm lấy nửa chén nước,nếu là me chín thường đã tách bỏ vỏ, lấy nạc me, dùng khoảng 200g nấu với chừng một chén nước cho tan me, vớt bỏ xác và hột me. Phụ gia và các loại rau ăn kèm gồm: giá sống rửa sạch để ráo; rau ngổ hay còn gọi là rau om lặt lấy phần non, ngắt khúc ngắn 5cm rửa sạch; đậu bắp cắt bỏ cuống, cắt chéo lát mỏng; bạc hà tước vỏ, cắt xéo khúc ngắn, hành tím lột vỏ, cắt lát mỏng, phi vàng với ít dầu, đừng để hành cháy, vớt ra để ráo dầu, ít hành tươi và rau ngò gai cắt nhỏ, ít rau thơm, xà lách nhặt rửa sạch. Nước chấm cá: Tùy thích chỉ dùng nước mắm nguyên chất với ít giọt chanh và ớt tươi xắt lát hoặc làm nước mắm me: Pha phần nước mắm 3 hoặc 4 phần nước lọc, tùy độ mặn của nước mắm thêm chút đường cho có vị ngọt sau cùng cho vào từng ít một phần nạc me đã nấu hoặc xay cho hỗn hợp có thêm vị chua nhẹ, tùy thích cho thêm ớt hay không.

Đun sôi nước với nước me, cho cá vào nấu chín, sau đó thêm đậu bắp, thơm, cà chua, giá, bạc hà vào. Tắt lửa, nêm nếm lại cho vừa ăn. Để làm một tô canh chua dọn trong mâm cơm các bạn chỉ cần múc canh ra tô, rắc rau om, ngò gai, ớt xắt lát và tỏi phi lên trên. Tùy thích ăn canh chua với bún, cơm. Chấm nước mắm, kèm rau sống.Trình bày trên bàn tiệc theo cách dọn lẩu để tùy thực khách dùng cá, rau... ít nhiều tùy ý. Dọn lên bàn một nồi lẩu đã trình bày như một tô canh đồng thời dọn kèm thêm đĩa trẹt đựng nước mắm mặn hoặc nước mắm me để có thể gắp cá bỏ vào đĩa, các thứ phụ gia mỗi thứ một đĩa riêng, rau sống, bún... Chuẩn bị riêng nước dùng chua và cá đã ướp, cần dùng đến đâu châm thêm nước dùng cho sôi và thả cá vào nồi lẩu cho chín. Nếu để phục vụ cho số đông thực khách không nên làm chín cá trong nướcdùng mà hấp cá đã ướp cho chín rồi để riêng, khi cần dùng thả cá đã hấp vào nước dùng sôi để làm nóng lại vì nếu làm chín cá trước với số lượng nhiều trong nước dùng, cá sẽ dễ bị bể vụn, miếng cá sẽ không còn ngon. Đồng bằng Nam Bộ vốn có nhiều các loại rau cho nên ngoài những phụ gia quen thuộc trong món canh chua cá lóc, có người thích dọn kèm một đĩa rau đủ thứ như rau đắng, bông điên điển, rau rút... ai muốn ăn loại nào cứ việc nhúng vào nồi lẩu cá sôi.

Món canh chua cá lóc là sự giao hòa của màu sắc - cái sắc vàng thơm ngon của hành phi trên mặt nước, cái sắc đỏ của cà chua, màu vàng của khóm, màu xanh của bạc hà, của rau thơm, của ngò gai, rau quế, màu trắng của giá, của thịt cá v.v... bên cạnh là bát nước mắm nguyên chất vàng thơm và vài lát ớt đỏ tươi, nhìn đã thấy ngon mắt và... thèm. Phải luôn đi kèm một đĩa rau sống với những bông hoa màu vàng ươm là bông điên điển và thêm một ít rau đắng những loại rau đặc trưng cho vùng Nam Bộ. Thế nên khi thưởng thức tô canh chua, thấy sao mà ngon, sao mà đậm đà đến thế... Ăn canh chua, ngon nhất vẫn phải ăn cùng cơm trắng và món thịt kho trứng ngọt thanh vị nước dừa, món cá rô đồng kho tiêu, hay món cá bống bắt được trên sông... Hương vị quê hương dân dã thấm vào từng thớ cá, vào vị chua chua ngòn ngọt của canh... làm nức lòng người thường thức.

Ăn canh chua cá lóc, nhấm nháp vị chua đặc trưng của canh hòa lẫn vị thơm thơm bùi bùi của thịt cá, vị thơm ngọt ngào của rau thơm, rau quế, vì mặn mà của nước mắm nguyên chất, vị đăng đắng của rau đắng, bông điên điển... thêm chút vị ngọt thanh nước dừa trong món thịt kho trứng, vị cay cay âm ấm của tiêu, của ớt... dường như cả quê hương Nam Bộ đang rất gần đây.

Xem nguyên bài viết tại :
Thuyết minh về món canh chua cá lóc

Thuyết minh về món thịt kho tàu

“Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ
Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh.” Tết đến, Xuân sang cuốn theo bao hi vọng, niềm vui và hạnh phúc. Trong dịp Tết cổ truyền ấy, các món ăn như bánh chưng, bánh dày hay dưa món, củ kiệu,… là những món không thể thiếu. Một trong số những món ăn quen thuộc vào ngày Tết mà hầu như nhà nào cũng có chính là món thịt kho tàu.
Nghe cái tên “thịt kho tàu”, chắc hẳn nhiều người nghĩ rằng món ăn này bắt nguồn từ Trung Quốc, là của người Tàu nhưng sự thật không phải vậy. Vì người Tàu rất ít khi ăn món này, mà nguyên liệu để làm món thịt kho tàu là thịt ba rọi, cái loại thịt có có nạc, có mỡ, có bì, xếp từng lớp khéo léo cứ như người ta cố tình tạo ra nó, thì chắc chắn chỉ có dân Việt Nam.

Theo nhà văn Nam Bộ Bình Nguyên Lộc, chữ "tàu", ở đây, theo nghĩa của người "miền dưới" là "lạt. Như vậy, thịt kho tàu không phải là thịt kho của người Trung Hoa, mà chỉ đơn giản là món thịt kho lạt và hoàn toàn là của người Việt nghĩ ra. Và giáo sư Trần Văn Khê đã nói: món thịt kho "tàu" hóa ra lại là "ta" hoàn toàn, món Việt trăm phần trăm.

Nguyên liệu để làm món thịt kho tàu rất đơn giản: chỉ gồm có thịt ba rọi, trứng vịt, hành, tỏi và nước dừa xiêm cùng với các gia vị thông dụng. Nhưng phải biết cách chọn thực phẩm cũng như bí quyết nấu ăn thì mới có thể làm cho món ăn này trở nên ngon miệng, hấp dẫn.
Muốn nấu món thịt kho tàu ngon thì nên lựa thịt ba rọi có 3 phần mỡ, 7 phần nạc và chọn thịt nạc thăng. Còn trứng thì tuyệt đối không mua trứng ung, bị ôi, thiu. Không nên chọn trứng có quầng đen ở đáy vì đó là trứng hư, bị lõm. Theo quan niệm, trứng trong món thịt kho
tàu phải tròn,không
bị nứt nẻ thì công
việc làm ăn mới
thuận lợi, gặp
nhiều may mắn.
Khi đã chuẩn bị đầy đủ nguyên liệu, ta bắt tay vào việc chế biến. Đầu tiên, thịt sau khi mua về thì cạo rửa sạch, để ráo nước. Sau đó cắt khúc, vuông khoảng 4-5cm, nêm nếm gia vị vừa ăn rồi để hai giờ cho thịt thấm đều. Sau đó, Phi hành, tỏi rồi xào thịt cho săn lại.
Trứng vịt đem đi luộc chín. Lưu ý, khi luộc trứng nên cho vào nồi một ít muối ăn vì nó sẽ làm tróc vỏ trứng. Luộc xong để vào nước lạnh, trứng sẽ dễ dàng bóc vỏ và không bị nứt. Khi vừa cho vào nước lạnh,
phải bóc vỏ liền,
tuyệt đối không
để trứng nguội
đi rồi mới bóc vỏ
Sau khi bóc vỏ xong, lấy tăm đâm vào trứng rồi đem đi chiên qua dầu để có màu vàng đẹp, thoát hơi tốt. Ngoài ra, ta còn có thể thay thế trứng vịt bằng trứng cút.
Thịt sau khi xào thăn, cho 1/2 thìa cà phê nước màu, 1/2 chén nước mắm. Nấu cho đến khi sôi lên thì đổ nước dừa xiêm vào ngang mặt thịt. Cuối cùng cho trứng vịt đã chiên vàng vào khi nước sôi và nấu cho sôi 2-3 lần.
Ngoài ra, ta có thể thay thế nước dừa bằng nước ngọt có gas. Thịt nhanh mềm hơn và vàng óng rất đều, theo đúng màu cánh gián rất đẹp mắt. Món thịt kho tàu sau khi nấu chín thì toàn bộ trứng phải nổi lên mặt nước. Có màu vàng óng như màu mật ong. Trứng có màu đỏ au, trông đẹp mắt. Món ăn vừa miệng, không quá măn hoặc quá nhạt. Chú ý, nấu lần đầu tiên ta nên nêm nhạt vì khi hâm lại nhiều lần thì vị sẽ đậm đà, mặn mà hơn.
Thưởng thức món thịt kho tàu có nhiều cách khác nhau. Nhưng phổ biến nhất là dùng với cơm. Chỉ cần bới một tô cơm nóng, chan một ít nước thịt, cắt trứng ra, bỏ thịt và trứng vào và dùng chung với dưa giá hoặc củ kiệu thì đã thưởng thức trọn vẹn hương vị của món thịt kho tàu.
Cách thứ hai là ăn thịt kho tàu cùng với bánh tráng. Đây vừa là món ăn chơi, nhưng khi kèm với thịt kho tàu, nó trở thành món chính từ lúc nào. Miếng bánh tráng trụng qua nước, gói với rau thơm, đồ chua, kèm thịt và trứng đã cắt nhỏ. Rồi chấm một ít nước thịt thì còn gì ngon bằng.
Đây là món ăn để lưu trữ nhiều ngày trong dịp Tết. Thế nên ta phải bảo quản nó đúng cách để luôn thưởng thức trọn hương vị của món ăn hấp dẫn này. Thường thì khi hết ngày, nhiều người cất nồi thịt vào tủ lạnh nhưng cách này sẽ làm dở nồi thịt. Ta chỉ cần để ở ngoài là được.
Đặc biệt khi múc thịt, nên múc một bên và múc xong thì đậy nắp lại ngay tránh hôi gió. Nếu bỏ muỗng vào nồi hay quậy nồi thịt thì nó sẽ mau hư. Mỗi lần hâm lại thịt cần vớt cho sạch bọt. Khi nước cạn, ta cho thêm nước vào rồi nêm nếm lại cho vừa ăn. Như thế, ta đã có thể bảo quản tốt món thịt kho tàu và mỗi lần thưởng thức, hương vị của nó sẽ không hề giảm đi.
Thịt kho Tàu là món ăn thân quen đối với người miền Nam ta. Trứng có hình tròn, thịt có hình vuông như sự hòa quyện giữa trời và đất làm hòa quyện không khí Tết, gắn bó với các thành viên trong gia đình từ bé đến lớn, khiến mọi người dễ dàng cảm nhận không khí hòa thuận, sum vầy. Đó cũng là dấu hiệu của một năm mới thuận lợi, thành công.
Đây là món ăn truyền thống của người Việt Nam trong những ngày Tết. Cái hương vị mặn mặn, ngọt ngọt, vừa bùi vừa béo của thịt kho tàu đã làm xao xuyến biết bao người dân Việt. Nó trở thành một món ăn truyền thống, một nét đẹp văn hóa của dân tộc và đóng góp vào kho tàng ẩm thực phong phú của Việt Nam.
Như các món ăn truyền thống khác, món thịt kho tàu không chỉ là một kiệt tác của những người nấu mà còn là niềm vui tinh thần trong những ngày Tết. Nó giúp gắn kết những mối dây tình cảm ruột thịt, gắn kết gia đình cùng tình làng nghĩa xóm. Không những thế, nó còn là một nét đẹp truyền thống của người dân Việt Nam.

Coi nguyên bài viết ở :
Thuyết minh về món thịt kho tàu

Giới thiệu chi tiết về món thịt kho tàu

Rất nhiều người Việt nghe nói đến kho tàu” thì đều nghĩ, món ăn này được bắt nguồn từ Trung Quốc. Tuy nhiên người Hoa lại rất ít người ăn món này. Theo nhà văn người nam bộ Bình Nguyên Lộc, chữ "tàu", ở đây, theo nghĩa của người "miền dưới" là "lạt", như sông Cái Tàu Thượng, sông Cái Tàu Hạ là hai con sông nước lợ. Như vậy thịt kho tàu không phải là thịt kho của người Trung Hoa, mà chỉ đơn giản là món thịt kho lạt.

Cũng có thuyết rằng, món thịt kho bên Tàu từ cái ông tể tướng Vương An Thạch đời Tống nghĩ ra, nhưng xem lại thì cái món thịt kho của ông, chẳng giống gì cái cách mà chúng ta thấy ở miếng thịt kho tàu xứ Việt. Vậy hóa ra cái món thịt kho mà được cả miền Nam hâm mộ ấy, đúng như lời giáo sư Trần Văn Khê nói: món thịt kho "tàu" hóa ra lại là "ta" hoàn toàn, món Việt trăm phần trăm.

Thịt kho tàu, cùng với bánh tét, dưa hấu, canh khổ qua dồn thịt, đã trở thành món không thể thiếu trong thực đơn ngày Tết của người Nam Bộ. Miếng thịt mềm rục có cả màu đỏ au của thịt nạc, trong trong của mỡ, nâu nâu của bì hầm nhừ, sóng sánh vàng ươm của nước màu chưng đường, kèm vị bùi của nước dừa xiêm, vị mặn của nước mắm đã được làm thanh đi bằng đường, thi thoảng có thêm vị hắc của chút xì dầu, điểm xuyết thêm mấy hột vịt luộc mà nước thịt ngấm đều từ trong lòng đỏ đến lòng trắng, đặt cạnh bát cơm trắng thơm nức trên bàn thờ ông bà, bên cạnh đĩa dưa chua, dường như đã thành truyền thống trong mâm cơm cúng tưởng nhớ ông bà tổ tiên.

Thịt kho tàu cũng như bao món kho khác, được nấu như món ăn để lưu trữ dài ngày vào dịp Tết. Nấu thịt kho tàu không khó, nhưng để nấu ngon, cũng không dễ chút nào. Miếng thịt mềm nhừ mà không nát, không bị quắt lại, màu thịt đỏ au ánh lên màu cánh gián, trứng vịt thấm đẫm nước thịt mà không đen, nước thịt vàng trong, không quá nhiều nước nhưng cũng không quá cạn làm khô miếng thịt. Mỗi lần ăn có thể mang ra đun lại, càng nhiều lửa, thịt càng rục, càng mềm, càng ngon. Thịt kho tàu có thể được ăn với nhiều món, cơm trắng, dưa kiệu, dưa giá nhưng có lẽ phổ biến nhất là ăn kèm với dưa cải chua. Có lẽ vì mặn, vị ngọt, vị bùi béo của thịt kho tàu kết hợp với vị chua xen lẫn cay cay của dưa cải muối xối, tạo nên hương vị quyến rũ đến bất ngờ.

Cách làm thịt kho tàu

Nguyên liệu:
- Thịt bắp đùi heo: 1.5 kg
- Trứng vịt: 10 quả
- Hành tím: 4 củ
- Dừa xiêm: 2 quả
- 1 củ tỏi, 5 quả ớt
Cách làm:
- Thịt cạo rửa sạch, để ráo nước, thái miếng to, vuông khoảng 4-5cm.
- Ướp gia vị vào thịt để hai giờ cho thấm.
- Xào thịt cho săn lại. Cho 1/2 thìa cà phê nước màu, 1/2 chén nước mắm. Khi nước mắm và thịt sôi lên, đổ nước dừa vào nồi.
- Trứng vịt luộc chín bóc vỏ, cho vào nồi. Thả ớt vào kho chung.
- Đun nhỏ lửa, hớt bọt cho đến khi thật mềm là được.
Mẹo nhỏ:
Thịt kho tàu thường phải mất mấy tiếng mới mềm được. Chính vì vậy với những người bận rộn, bạn có thể thay thế nước dừa bằng nước ngọt có gas. Thịt nhanh mềm hơn rất nhiều và vàng rất đều, theo đúng màu cánh gián rất đẹp mắt.

Chú ý: Tham khảo thêm các bài bên dưới! Thấy hay thì like và chia sẻ ngay nhé.

Tham khảo bài nguyên mẫu tại đây :
Giới thiệu chi tiết về món thịt kho tàu

Giới thiệu về bánh tét ngày tết

Bánh tét, có nơi gọi là bánh đòn, là một loại bánh trong ẩm thực của cả người Kinh và một số dân tộc thiểu số ở miền Nam và miền Trung Việt Nam, là nét tương đồng của bánh chưng ở Miền Bắc về nguyên liệu, cách nấu, chỉ khác về hình dáng và sử dụng lá chuối để gói thay vì lá dong. Vì vậy nó cũng được sử dụng nhiều nhất trong dịp Tết Nguyên đán cổ truyền của dân tộc Việt Nam với vị trí không khác bánh chưng.( Về điều này có ý kiến lý giải là do triều Nguyễn muốn tạo sự khác biệt trong văn hóa với Đàng Ngoài, khi đất nước trong giai đoạn Trịnh - Nguyễn phân tranh.).Từ Quảng Bình trở vào, người dân gói bánh tét để ăn Tết.

Ở các vùng trung du và miền núi phía Bắc cũng có loại bánh tương tự có tên là bánh tày. Giáo sư Trần Quốc Vượng cho rằng đây mới là loại bánh chưng cổ.

Do có hình trụ nên khi nấu xong không thể ép bớt nước được và cũng do dùng lá chuối nên bánh để không được lâu. Để khắc phục, người ta thường làm bánh không có nhân thịt ( ta thấy chỉ có bánh tét nhân mỡ-đậu , nhân chuối ) để có thể để được lâu hơn. Bánh được đánh giá là gói khéo khi bánh được làm tròn đều, buộc chặt, nhân bánh nằm chính giữa ( có nghệ nhân còn gói nhân khi cắt ra có hình tam giác trông rất đẹp.).

Theo dân gian lưu truyền, ngày xưa cứ tết đến người ta gói loại bánh này và gọi bằng tên "bánh tết", lâu dần đọc trại ra thành "bánh tét". Tuy nhiên, tên gọi "bánh tét" rất có thể còn xuất xứ từ cách thức cắt bánh ( hành động cắt bánh: hai tay cầm hai đầu dây, khoanh tròn đòn bánh đã lột (vỏ), "tét" từng khoanh một, đơm lên đĩa)

Nguyên liệu
Nguyên liệu để gói bánh tét tương tự như dùng làm bánh chưng, bao gồm: gạo nếp, đậu xanh, thịt heo ( mỡ ) và một số gia vị tương tự như để làm bánh chưng. Cũng như bánh chưng, ngày nay nhiều khi người ta dùng dây ni lon thay vì dây lạt.
Quy trình thực hiện
Gạo nếp trước khi gói bánh thường được ngâm, gút trước vài tiếng, đãi sạch.Sau đó đem gạo ướp muối bọt có độ đậm nhạt vừa phải. Đậu xanh ngâm đãi sạch vỏ + thịt heo ( mỡ) xắt miếng hình khối chữ nhật để làm nhân bánh (không ướp hành củ, tiêu bột như bánh chưng). Bánh làm xong được cho vào nồi cao ( người ta hay dùng thùng phi cũ cắt nửa).Phải để bánh dựng đứng, nấu bằng củi gộc đun sôi trong gần một buổi, bánh nhỏ nấu khoảng 3 giờ, bánh lớn nấu tới 5 tiếng mới chín. Khi mới bắt đầu đun nồi bánh phải đun to lửa cho sôi nước trong nồi một lúc sau đó rút bớt lửa để sôi liu riu suốt quá trình nấu bánh, độ nóng lan tỏa để bánh được chín đều. Bánh chín được vớt ra rổ cho ráo nước và nguội.
Thuyết minh :
I.Vật liệu:
- Nếp: 2 chén cho mỗi cái bánh.
- 1 gói đậu xanh cho 4 cái bánh tét.
- Thịt ba chỉ, lựa miếng có nhiều mỡ, khỏang 100gr cho một cái bánh
- Hành lá, muối, đường và bột ngọt.
- Lá chuối
- Dây cột
- Một cái nồi lớn có nắp đậy.

II. Cách làm:

a) Chuẩn bị ngày hôm trước:

Nếp đong chén gạt ngang , cứ 2 chén cho một cái bánh. Vo nếp thật sạch, đổ vào một thau lớn trộn chung với một ít muối và ngâm nước qua đêm. Có thể cho vào một ít màu xanh lá cây, để nếp có màu sau khi nấu. (Thường nếu gói bằng lá chuối, bánh cũng đã có màu xanh lạt, nhưng khi cho thêm màu chút xíu thì bánh trông đậm đà hơn)
Thịt heo ( mỡ ), cắt từng miếng dài theo chiều dài bánh, thịt đem ướp với muối, đường và bột ngọt.
Đậu xanh vo cho sạch, ngâm với nước muối vài tiếng đồng hồ cho mềm, đem hấp hoặc nấu với chút xíu nước trong nồi (có đậy nắp). Đâu xanh chín tán sơ. Bắc chảo lên bếp xào với chút dầu ăn và hành lá đã cắt nhỏ, nêm nếm cho vừa ăn. Sau đó tắt lửa để qua một bên cho đậu xanh nguội.
Khi đậu xanh đã nguội và thịt ba chỉ đã ướp qua đêm, hoặt ít nhất là 4,5 tiếng đồng hồ. Các bạn có thể chuẩn bị như sau cho việc gói bánh dễ dàng hơn:

Trải đậu xanh ra một miếng giấy bóng, xắp miếng thịt mỡ đã ướp, cuốn giấy lại theo chiều dài của miếng giấy để đậu xanh bọc đều thịt mỡ. Đây là nhân bánh, có hình dạng của bánh, sẽ giúp cho việc gói bánh dễ và khi cắt bánh ra nhân đều tròn đẹp mắt. Xắp nhân vào hộp và cất vào tủ lạnh.
b) Gói bánh:
Lá chuối rửa sạch lau khô, dùng kéo cắt miếng từ 25 đến 30 cm. Những miếng nhỏ để một bên để xài thêm khi lá bị rách.
Dây cột cắt khúc khoảng 40cm, mỗi bánh cần 6 - 8 sợi.
Đổ nếp vào một rổ lớn cho ráo nước.
Lấy nhân bánh trong tủ lạnh ra và gói bánh.
Lá chuối xắp 2 lớp lên một khay hay tấm thớt lớn như , dùng chén đã đong nếp trước khi ngâm, đong 1 chén vun (một chén gạt ngang nếp đã nở ra sau khi ngâm) đổ ra lá chuối, làm thành một hình chữ nhật, chiều dài khỏang bằng nhân bánh, để nhân bánh lên nếp , kế đến đong thêm một chén vun nếp và đổ dọc lên trên nhân.
Cuốn lá chuối lại, gấp mí lá. Dùng dây cột lại ở giữa, không cần cột chặt vì sẽ mở ra nếu cần để sửa cho bánh tròn. Gấp một đầu bánh lại, để đòn bánh đứng lên, và xếp đầu bánh hình vuông.
Trở đầu và vỗ nhẹ vào đòn bánh cho nếp chặt lại, xếp góc đầu còn lại.
Nếu lá chuối rách, dùng những miếng lá nhỏ lót thêm vào.
Khi cột dây bánh, dùng tay bóp nhẹ hoặc lăn nhẹ đòn bánh cho đều, bánh không cần tròn lắm lúc này, chỉ cần lưu ý cho các cạnh của hình vuông trên 2 đầu bánh thẳng với nhau. Khi luộc bánh xong: lăn bánh trên thớt một lần nữa lúc bánh còn nóng cho tròn.
Bánh gói xong cho vào nồi, để bánh đứng thì bánh sẽ chín đều, đổ nước cho ngập bánh, và nấu khỏang 4 tiếng đồng hồ. Chuẩn bị một ít nước sôi để châm thêm vào khi nước vơi đi, giữ mực nước luôn luôn cao hơn bánh ít nhất là 5cm để bánh không bị cứng (sống lại).
Bánh chín, vớt ra xả nước lạnh cho thật lâu, rửa bánh cho bớt chất nhờn trên lá. Cho bánh vào bồn rửa chén hoặc một thau lớn ngâm nước thật lạnh thêm một lúc ( khỏang thời gian này, mỗi người có một ý khác nhau, kết quả khác thế nào thì không xác định được)
Khi bánh nguội bớt, sắp bánh lên một vỉ để ráo nước

Xem bài nguyên mẫu tại :
Giới thiệu về bánh tét ngày tết

Thuyết minh về bánh tét ngày tết

Người dân Nam bộ còn lưu truyền câu ca dao:
“Chim kêu ba tiếng ngoài sông
Mau lo lựa nếp hết đông tết về”
Lo lựa nếp để gói bánh tét trước cúng ông bà tổ tiên, kế biếu bà con lối xóm, sau cùng để ăn cho ba ngày tết. Do vậy, món bánh tét ngày Tết là loại bánh không thể thiếu được vào dịp xuân về, là nét văn hóa ẩm thực tiêu biểu của người Việt ở Nam bộ. Vì thế, một số người mới cho rằng cách gọi bánh tét có thể được đọc trại từ bánh tết mà ra.
Cứ đến khoảng 27, 28 tết là mấy bà nội trợ đã lo chuẩn bị nếp. Một ngày trước khi gói bánh, nếp được đem đi ngâm và gút. Hôm sau, họ cắt mấy tàu lá chuối còn nguyên và xanh um ở mé vườn hay sau hè. Lá chuối được rọc nhỏ lại theo kích cỡ đòn bánh, rồi lau sạch và quét lên tí dầu ăn cho láng. Nếp gút lại thật kỹ, sau đó mới bày lên lá với lớp nếp đến lớp nhân. Người gói bánh tiến hành gói phần lá bên ngoài và gói ở 2 đầu bánh, rồi dùng sức buộc dây lạt thật chặt thân bánh, phần dây thừa được gọi là đuôi bánh. Cách gói phần đầu bánh có hai dạng: Gói theo kiểu hình tròn hay hình tam giác. Người gói bánh cột phần đuôi 2 hay 3,4 đòn bánh lại với nhau thành từng xâu, rồi bỏ vào nồi nước sôi trên lò than, lò củi để luộc chín. Mấy đứa nhỏ ngồi xung quanh nồi bánh tét chụm lửa. Hồi còn nhỏ, ai đã từng ngồi như thế thì chắc không thể quên được hình ảnh bập bùng của lò than với âm thanh tí tách, cái háo hức mong đợi khi bánh được vớt khỏi nồi nước luộc và cái hơi nóng tỏa ra làm ấm cả gian nhà bếp. Đó là cảm giác của ngày tết sắp về ở từng gia đình. Độ chừng 3 đến 4 tiếng, người ta vớt bánh ra khỏi nồi nước, treo thành từng xâu trên cái đòn dài của nhà bếp để bánh ráo nước và tránh sự dòm ngó của lũ mèo, chuột. Sáng 30 cúng rước ông bà, họ cắt bánh thành từng khoanh rồi đặt vào đĩa để cúng. Bánh cúng xong thì con cháu mới được ăn. Khi ăn cũng là dịp để thưởng thức sự khéo léo của người nội trợ. Bánh tét ngon là khi mở ra phần nếp không dính lá, nếp phải dẻo, mịn và trong, phần nhân phải vừa ăn (không quá mặn cũng không quá ngọt) và có mùi thơm. Muốn được như vậy phải biết kỹ thuật gói bánh. Nếp chọn là loại nếp thượng hạng, nếp rặt, không được pha với thứ khác. Còn lá chuối là loại lá còn nguyên vẹn, không được rách để tránh cho bánh bị “xì” khi nấu. Mặt khác, nếp phải được gút kỹ nhiều lần sao cho thật sạch để khi ăn bánh phần nếp mới dẻo, mịn. Kỹ lưỡng hơn nữa, khi gút người ta cho thêm muối vào cho nếp thêm sạch, dễ gút. Nước ngâm nếp phải được để trong lu vài ngày để lắng tạp chất xuống đáy. Điều này giúp bánh được giữ lâu hơn trong ba ngày tết. Khi gói bánh phải gói thật chặt, không được gói lỏng vì dễ làm hư bánh trong khi luộc. Đậu xanh ngâm kỹ, đãi vỏ thật sạch thì nhân mới ngon.
Nói là bánh tét ngày tết, nhưng dân Nam bộ chia làm 2 loại: Bánh tét mặn và bánh tét ngọt. Bánh tét mặn là loại bánh tét có nhân đậu xanh với mỡ, thịt ba rọi, một số nơi còn thêm hột vịt muối. Còn bánh tét ngọt gồm bánh tét nước tro, bánh tét nhân chuối, nhân đậu xanh,…Bánh tét mặn được làm phổ biến vào dịp tết. Người ta chọn mỡ heo hay thịt ba rọi còn tươi, rửa sạch và để ráo nước. Khi gói bánh thì để thịt, mỡ trên lớp đậu xanh. Nếu gói bằng thịt ba rọi, khi cắt bánh, phần chính giữa vừa trong vừa đục, trông rất bắt mắt. Còn bánh tét nhân mỡ thì phần mỡ trong vắt mới ngon. Ở Tiền Giang, khi làm bánh tét nhân mỡ, mấy bà lấy mỡ ướp với tí đường, củ hành tím rồi phơi trong thau nhôm chừng 5 đến 6 tiếng. Mỡ ướp hành tím làm cho nhân không nặng mùi, thơm và dễ ăn, khác với ướp tỏi. Phơi mỡ trong thau nhôm để lấy nhiệt cho mỡ dễ chín, săn chắc. Mấy ngày tết, sợ ăn bánh tét mặn ngán, bà con còn gói thêm bánh tét ngọt để ăn thêm, đặc biệt ở một số gia đình ăn chay. Bánh tét ngày Tết bằng nước tro là loại bánh mà nếp được ngâm với nước tro tàu, phần nhân gồm đậu xanh xào chung dừa nạo. Bánh có mùi thơm lạ, màu hơi đen, ăn rất ngon. Gọi bánh tét chuối vì phần nhân được làm bằng chuối. Người ta chọn loại chuối xiêm chín rục làm nhân. Khi cắt bánh, phần nhân có màu đỏ thẫm, vị ngọt tự nhiên. Ở miệt Bến Tre còn có loại bánh tét không nhân. Bánh được làm toàn bằng nếp trộn chung với đậu đen hay đậu phộng và nước cốt dừa, ăn rất béo và thơm. Còn ở Tiền Giang, cũng bánh loại này, mấy bà còn cho thêm chuối xiêm chín đã bóp nhỏ vào hỗn hợp đậu, nếp, nước cốt dừa, đậu đen rồi mới gói. Khi cắt ra, bánh gồm nhiều màu, rất bắt mắt và có vị ngọt của chuối, vị bùi của đậu, vị béo của nước cốt dừa, vị dẻo của nếp.
Ở Nam bộ, khi ăn, bánh tét ngày Tết thường được dùng chung với dưa kiệu, dưa muối cho đỡ ngán. Có người thích ngọt, khi ăn họ còn cho thêm đường trên mặt bánh. Người ta còn dùng bánh tét thay cơm. Họ chan nước thịt kho tàu dầm tí ớt, trộn thêm dưa giá hay dưa kiệu để ăn chung với bánh. Ăn kiểu này thì ngon và hết sẩy! Vị béo, ngọt của bánh cùng vị chua chua của dưa giá, dưa kiệu và vị mặn mặn, cay cay của nước thịt kho tàu tạo nên một hương vị khó tả và nhớ mãi. Mấy bà nội trợ ở Tiền Giang còn làm thêm món củ cải trắng ngâm với nước tương hoặc nước mắm, bỏ trong hủ sành để ăn kèm với bánh tét.
Bánh tét ở Nam bộ có một số loại rất ngon, nổi tiếng, ăn thì khỏi chê, biếu rất sang như: Bánh tét Trà Cuôn (Trà Vinh), Bánh tét lá cẩm (Cần Thơ) và bánh tét Tiền Giang. Bánh tét Trà Cuôn có gốc tích từ xã Kim Hòa, huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh. Phần nếp bánh có màu xanh, nhân đậu xanh, trong cùng là thịt mỡ và hột vịt muối. Phần nếp có màu xanh do được làm từ nước lá chùm ngót giã nhuyễn trộn vào. Đây được cho là cách làm bánh tét của người Khmer Trà Vinh. Theo người dân Cần Thơ cho biết bánh tét lá cẩm có nguồn từ gia tộc họ Huỳnh ở Bình Thủy. Dòng họ này đã làm cho bánh độc đáo hơn bằng cách nấu lá cẩm lấy nước, sau đó cho nước hòa chung với nếp. Do đó,khi cắt bên ngoài,bánh có màu tím than, phần nhân có màu vàng của đậu, màu hồng của thịt, màu trắng của mỡ và màu đỏ của trứng vịt muối, trông rất đẹp và duyên dáng. Còn bánh tét Tiền Giang có nhân thịt ba rọi, tôm khô và hột vịt. Do nếp được ngâm nước lá dứa, nên khi ăn bánh có mùi thơm nhẹ.
Mặt khác, trứng hột vịt muối- nguyên liệu chế biến thức ăn phổ biến của người Hoa có mặt trong nhân bánh tét hay sự tiếp thu từ cách làm bánh của người Khmer (bánh tét Trà Cuôn) đã phản ánh rõ nét sự giao lưu văn hóa ở vùng đất Nam bộ. Sự khác biệt trong cách làm bánh tét ở một số địa phương như Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh và Cần Thơ thể hiện được tính thống nhất mà đa dạng của văn hóa ẩm thực. Phải chăng đó chính là những nét nghĩa văn hóa của đòn bánh tét ngày tết ở vùng đất phương Nam ấm áp và yên bình?

Đọc nguyên bài viết tại :
Thuyết minh về bánh tét ngày tết

Thuyết minh về một trò chơi quen thuộc mà em thích nhất ( bịt mắt bắt dê)

Một trong những trò chơi dân gian xuất hiện từ lâu đời được trẻ em vô cùng yêu thích là trò ú tim. Thử hỏi tuổi thờ nào mà chẳng có những kỉ niệm tràn đầy cảm xúc yêu thương, gắn bó với trò chơi quen thuộc ấy?!

Trò ú tim có thể chơi ở bất cứ nơi đâu, bất cứ lúc nào. Trong căn nhà nhỏ ấm cúng hay giữa vườn cây râm mát. Sân đình, sân chùa vào những đêm trăng sáng là chỗ chơi lí tưởng cho đám trẻ trong làng.

Cả người trốn và người tìm đều cần vận dụng trí thông minh. Người trốn phải ẩn nấp vào những chỗ vừa bất ngờ vừa kín đáo. Người tìm phải quan sát, phán đoán xem các bạn có thể nấp ở những chỗ nào để nhanh chóng phát hiện. Nhiều khi, người đi tìm bị đánh lạc hướng bởi những tiếng kêu vừa như trêu cợt, vừa như thách thức: Tớ ở đây cơ mà! cứ ran lên bốn phía. Người chơi ở trong tâm trạng hồi hộp, háo hức, thú vị vô cùng! Ai trốn không kĩ, bị phát hiện và gọi đúng tên thì sẽ phải nhắm mắt và đi tìm thay cho người trước.
Cuộc chơi cứ thế diễn ra trong khung cảnh êm đềm của quê hương. Những tiếng cười trẻ thơ trong trẻo vang lên không ngớt. Dưới ánh trăng vời vợi, bóng cây, bóng lá chập chờn lay động như cùng tham gia vào trò ú tim đầy thú vị của đám trẻ hồn nhiên, vô tư, đáng yêu biết mấy!

Sau này lớn lên, dẫu có đi bốn phương trời thì mỗi khi nhớ lại thời thơ ấu, chắc chắn chúng ta chẳng thể nào quên những trò chơi dân dã như ú tim, kéo co, rồng rắn lên mây, bịt mắt bắt dê, thả diều, chọi dế… bởi chúng như những sợi dây vô hình đan dệt nên tình bạn trong sáng, thắm thiết trong thời niên thiếu của mỗi con người.

Xem nguyên bài viết tại :
Thuyết minh về một trò chơi quen thuộc mà em thích nhất ( bịt mắt bắt dê)

Thuyết minh về trò chơi ô ăn quan

Ngày nay khi cuộc sống ngày càng phát triển thì đã có biết bao nhiêu trò chơi mới ra đời để phục vụ nhu cầu giải trí của con người , đặc biệt là trẻ em.Nhưng khi rời thành phố ồn ào , náo nhiệt để đến với những làng quê yên bình sau những lũy tre xanh , thỉnh thoảng ra lại được nhìn ngắm những đứa trẻ say sưa trong những trò chơi dân gian thú vị, một trong những trò chơi ấy là “ ô ăn quan”.
Ô ăn quan đã có ở Việt Nam từ rất lâu đời, có thể nó được lấy cảm hứng từ những cánh đồng lúa nước ở nơi đây. Những câu truyện lưu truyền về Mạc Hiển Tích , đỗ Trạng nguyên năm 1086 nói rằng ông đã có một tác phẩm bàn về các phép tính trong trò chơi Ô ăn quan và đề cập đến số ẩn của ô trống xuất hiện trong khi chơi. Ô ăn quan đã từng phổ biến ở khắp ba miền Bắc, Trung, Nam của Việt nam nhưng những năm gần đây chỉ còn được rất ít trẻ em chơi. Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam có trưng bày, giới thiệu và hướng dẫn trò chơi này.
Theo các nhà nghiên cứu, ô ăn quan thuộc họ trò chơi mancala, tiếng Ả Rập là manqala hoặc minqala (khi phát âm, trọng âm rơi vào âm tiết đầu ở Syria và âm tiết thứ hai ở Ai Cập) có nguồn gốc từ động từ naqala có nghĩa là di chuyển.
Bàn chơi: bàn chơi Ô ăn quan kẻ trên một mặt bằng tương đối phẳng có kích thước linh hoạt miễn là có thể chia ra đủ số ô cần thiết để chứa quân đồng thời không quá lớn để thuận tiện cho việc di chuyển quân, vì thế có thể được tạo ra trên nền đất, vỉa hè, trên miếng gỗ phẳng.... Bàn chơi được kẻ thành một hình chữ nhật rồi chia hình chữ nhật đó thành mười ô vuông, mỗi bên có năm ô đối xứng nhau. Ở hai cạnh ngắn hơn của hình chữ nhật, kẻ hai ô hình bán nguyệt hoặc hình vòng cung hướng ra phía ngoài. Các ô hình vuông gọi là ô dân còn hai ô hình bán nguyệt hoặc vòng cung gọi là ô quan.
Quân chơi: gồm hai loại quan và dân, được làm hoặc thu thập từ nhiều chất liệu có hình thể ổn định, kích thước vừa phải để người chơi có thể cầm, nắm nhiều quân bằng một bàn tay khi chơi và trọng lượng hợp lý để khỏi bị ảnh hưởng của gió. Quan có kích thước lớn hơn dân đáng kể cho dễ phân biệt với nhau. Quân chơi có thể là những viên sỏi, gạch, đá, hạt của một số loại quả... hoặc được sản xuất công nghiệp từ vật liệu cứng mà phổ biến là nhựa. Số lượng quan luôn là 2 còn dân có số lượng tùy theo luật chơi nhưng phổ biến nhất là 50. Bố trí quân chơi: quan được đặt trong hai ô hình bán nguyệt hoặc cánh cung, mỗi ô một quân, dân được bố trí vào các ô vuông với số quân đều nhau, mỗi ô 5 dân. Trường hợp không muốn hoặc không thể tìm kiếm được quan phù hợp thì có thể thay quan bằng cách đặt số lượng dân quy đổi vào ô quan.
Người chơi: thường gồm hai người chơi, mỗi người ngồi ở phía ngoài cạnh dài hơn của hình chữ nhật và những ô vuông bên nào thuộc quyền kiểm soát của người chơi ngồi bên đó. Mục tiêu cần đạt được để giành chiến thắng: người thắng cuộc trong trò chơi này là người mà khi cuộc chơi kết thúc có tổng số dân quy đổi nhiều hơn. Tùy theo luật chơi từng địa phương hoặc thỏa thuận giữa hai người chơi nhưng phổ biến là 1 quan được quy đổi bằng 10 dân hoặc 5 dân.
Di chuyển quân: từng người chơi khi đến lượt của mình sẽ di chuyển dân theo phương án để có thể ăn được càng nhiều dân và quan hơn đối phương càng tốt. Người thực hiện lượt đi đầu tiên thường được xác định bằng cách oẳn tù tì hay thỏa thuận.
Khi đến lượt, người chơi sẽ dùng tất cả số quân trong một ô có quân bất kỳ do người đó chọn trong số 5 ô vuông thuộc quyền kiểm soát của mình để lần lượt rải vào các ô, mỗi ô 1 quân, bắt đầu từ ô gần nhất và có thể rải ngược hay xuôi chiều kim đồng hồ tùy ý. Khi rải hết quân cuối cùng, tùy tình huống mà người chơi sẽ phải xử lý tiếp như sau: Nếu liền sau đó là một ô vuông có chứa quân thì tiếp tục dùng tất cả số quân đó để rải tiếp theo

Xem nguyên bài viết tại :
Thuyết minh về trò chơi ô ăn quan

Thuyết minh về trò chơi dân gian nhảy dây

Đây là trò chơi dành cho các em gái, rèn luyện sức bật, sức bền và sự khéo léo nhanh nhẹn. Các em có thể chơi nhảy dây tập thể và nhảy dây cá nhân.

Nhảy dây cá nhân có hai em nhảy thi với nhau. Các em dùng một đoạn dây thừng dài khoảng 1,5m và chọn chỗ đất bằng phẳng để chơi. Em nhảy trước hai tay cầm hai đầu dây giơ lên ngang eo, đưa dây ra phía sau, phần trũng nhất của dây chạm vào bụng chân. Khi nhảy, quay cổ tay cho dây vòng qua đầu văng xuống đất rồi nhảy hai chân qua dây, tiếp tục quay cổ tay để dây quay theo. Cứ như vậy đến khi nào dây vướng chân thì mất lượt, đổi cho em khác nhảy. Có thể nhảy chân trước, chân sau hay hai chân một lúc. Khi nhảy hai tay quay dây song song hoặc bắt chéo dây trước ngực.

Cũng có thể nhảy dây quay từ trước ra sau hoặc ngược lại hoặc vừa nhảy vừa chạy về phía trước hay lùi lại phía sau xem ai nhanh, xa hơn. Ai nhảy một mạch được nhiều lần hơn trong một thời gian quy định là thắng cuộc. Nhảy dây tập thể có ba em trở lên, nếu nhiều em cùng chơi thì chia làm hai đội, sau khi oẳn tù tỳ đội nào thắng được nhảy trước, đội thua đứng quay dây. Khi chơi các em chọn một đoạn dây thừng dài 3-4m, hai em cầm hai đầu dây đứng xa nhau cho dây chùng chạm đất.

Trong khi chơi, các em vừa nhảy vừa hát những bài đồng dao ngắn, đơn giản: Quả cam nho nhỏ có cái cuống xinh xinh hay Một con vịt xoè ra hai cái cánh/ Nó kêu rằng quác quác quác quạc quạc quạc… Khi hát lần một các em quay dây nửa vòng sang bên này rồi sang bên kia, khi hát lần hai thì quay dây liên tục cả vòng qua đầu các em cho đến khi hát hết bài.

Trong khi nhảy các em cùng đội đứng bên ngoài có thể vào nhảy cùng bất cứ lúc nào. Nếu có một em chạm vào dây, các em đang nhảy đều mất lượt, nếu trong đội còn em khác thì được nhảy tiếp nếu không thì đến lượt đội bạn nhảy. Khi đang nhảy, dây phải liên tục quay đều (không quá nhanh, quá chậm hoặc bất thường), nếu để dây dừng lại đội quay dây phải quay tiếp lượt nữa. Bên nhảy phối hợp nhịp nhàng vừa nhảy vừa hát./.
nguồn googleĐây là trò chơi dành cho các em gái, rèn luyện sức bật, sức bền và sự khéo léo nhanh nhẹn. Các em có thể chơi nhảy dây tập thể và nhảy dây cá nhân.

Nhảy dây cá nhân có hai em nhảy thi với nhau. Các em dùng một đoạn dây thừng dài khoảng 1,5m và chọn chỗ đất bằng phẳng để chơi. Em nhảy trước hai tay cầm hai đầu dây giơ lên ngang eo, đưa dây ra phía sau, phần trũng nhất của dây chạm vào bụng chân. Khi nhảy, quay cổ tay cho dây vòng qua đầu văng xuống đất rồi nhảy hai chân qua dây, tiếp tục quay cổ tay để dây quay theo. Cứ như vậy đến khi nào dây vướng chân thì mất lượt, đổi cho em khác nhảy. Có thể nhảy chân trước, chân sau hay hai chân một lúc. Khi nhảy hai tay quay dây song song hoặc bắt chéo dây trước ngực.

Cũng có thể nhảy dây quay từ trước ra sau hoặc ngược lại hoặc vừa nhảy vừa chạy về phía trước hay lùi lại phía sau xem ai nhanh, xa hơn. Ai nhảy một mạch được nhiều lần hơn trong một thời gian quy định là thắng cuộc. Nhảy dây tập thể có ba em trở lên, nếu nhiều em cùng chơi thì chia làm hai đội, sau khi oẳn tù tỳ đội nào thắng được nhảy trước, đội thua đứng quay dây. Khi chơi các em chọn một đoạn dây thừng dài 3-4m, hai em cầm hai đầu dây đứng xa nhau cho dây chùng chạm đất.

Trong khi chơi, các em vừa nhảy vừa hát những bài đồng dao ngắn, đơn giản: Quả cam nho nhỏ có cái cuống xinh xinh hay Một con vịt xoè ra hai cái cánh/ Nó kêu rằng quác quác quác quạc quạc quạc… Khi hát lần một các em quay dây nửa vòng sang bên này rồi sang bên kia, khi hát lần hai thì quay dây liên tục cả vòng qua đầu các em cho đến khi hát hết bài.

Trong khi nhảy các em cùng đội đứng bên ngoài có thể vào nhảy cùng bất cứ lúc nào. Nếu có một em chạm vào dây, các em đang nhảy đều mất lượt, nếu trong đội còn em khác thì được nhảy tiếp nếu không thì đến lượt đội bạn nhảy. Khi đang nhảy, dây phải liên tục quay đều (không quá nhanh, quá chậm hoặc bất thường), nếu để dây dừng lại đội quay dây phải quay tiếp lượt nữa. Bên nhảy phối hợp nhịp nhàng vừa nhảy vừa hát

Coi nguyên bài viết ở :
Thuyết minh về trò chơi dân gian nhảy dây

Dàn bài thuyết minh về trò chơi nhảy dây

Mở bài

* Giới thiệu chung : Nhảy dây là trò chơi mà các bạn gái ở lứa tuổi thiếu niên nhi đồn rất thích .Nhảy dây được chơi trong lúc rỗi rãi ở nhà hoặc vào giờ ra chơi ở trường.

Thân bài

* Thuyết minh về trò chơi nhảy dây:

a. Đối tượng chơi là các bạn gái ở tuổi thiếu nhi. Trò chơi cần một khoảnh đất vừa đủ rộng cho vòng dây quay. Dây dùng để nhảy có thể là dây thừng, dây cao su, dây thun..

b. Cách chơi :

Có hai kiểu nhảy dây là nhảy một người hoặc nhảy nhiều người.

+ Cách thứ nhất (nhảy một người):

_ Dùng một sợi dây đủ dài. Hai đầu dây cuốn vài vòng vào bàn tay để giữ cho chắc. Đặt chân lên chính giữa sợi dây, kéo cao cho vừa tầm người là được.

_ Người nhảy đứng thẳng, hai cổ tay quay đều dây về phía trước cho qua đầu, khi dây chạm sát đất thì nhảy lên. Vừa nhảy vừa đếm, để dây vướng chân là mắc lỗi, là phải dừng lại. Người thắng là người có số lần nhảy nhiều nhất.

+ Cách chơi thứ hai (nhảy nhiều người):

_ Hai người quay dây đứng cách nhau một khoảng cách đủ để dây chùng vừa chạm đất là được.

_ Quay dây đều tay. Lần lượt từng người hoặc hai, ba người cùng nhảy. Trò chơi này cần sự khéo léo. Nếu để dây chạm trúng chân thì phải ra quay dây cho các bạn khác vào nhảy.

Kết bài

* Cảm nghĩ của em

_ Trò chơi nhảy dây vừa vui vừa bổ ích, rèn luyện sự nhanh mắt, nhanh chân và sức khỏe dẻo dai, có ích cho quá trình phát triển cơ thể của tuổi thiếu nhi.

_ Trò chơi gắn liền với tuổi thơ.

Đọc nguyên bài viết tại :
Dàn bài thuyết minh về trò chơi nhảy dây

Thứ Sáu, 24 tháng 3, 2017

Thuyết minh về trò chơi dân gian ú tim

Trò ú tim có thể chơi ở bất cứ nơi đâu, bất cứ lúc nào. Trong căn nhà nhỏ ấm cúng hay giữa vườn cây râm mát. Sân đình, sân chùa vào những đêm trăng sáng là chỗ chơi lí tưởng cho đám trẻ trong làng.
Trò ú tim không cần đồ chơi. Dăm ba đứa bé túm tụm lại là trò chơi bắt đầu. Cả nhóm sẽ chỉ định một bạn quay mặt vào bờ tường hoặc thân cây nào đó rồi nhắm mắt lại và đếm: năm, mười, mười lăm, hai mươi… cho đến một trăm. Trong thời gian đó, các bạn khác sẽ tỏa ra tìm chỗ trốn.
Cả người trốn và người tìm đều cần vận dụng trí thông minh. Người trốn phải ẩn nấp vào những chỗ vừa bất ngờ vừa kín đáo. Người tìm phải quan sát, phán đoán xem các bạn có thể nấp ở những chỗ nào để nhanh chóng phát hiện. Nhiều khi, người đi tìm bị đánh lạc hướng bởi những tiếng kêu vừa như trêu cợt, vừa như thách thức: Tớ ở đây cơ mà! cứ ran lên bốn phía. Người chơi ở trong tâm trạng hồi hộp, háo hức, thú vị vô cùng! Ai trốn không kĩ, bị phát hiện và gọi đúng tên thì sẽ phải nhắm mắt và đi tìm thay cho người trước.
Cuộc chơi cứ thế diễn ra trong khung cảnh êm đềm của quê hương. Những tiếng cười trẻ thơ trong trẻo vang lên không ngớt. Dưới ánh trăng vời vợi, bóng cây, bóng lá chập chờn lay động như cùng tham gia vào trò ú tim đầy thú vị của đám trẻ hồn nhiên, vô tư, đáng yêu biết mấy!
Sau này lớn lên, dẫu có đi bốn phương trời thì mỗi khi nhớ lại thời thơ ấu, chắc chắn chúng ta chẳng thể nào quên những trò chơi dân dã như ú tim, kéo co, rồng rắn lên mây, bịt mắt bắt dê, thả diều, chọi dế… bởi chúng như những sợi dây vô hình đan dệt nên tình bạn trong sáng, thắm thiết trong thời niên thiếu của mỗi con người.

Tham khảo bài gốc ở :
Thuyết minh về trò chơi dân gian ú tim

Thuyết minh về trò chơi dân gian ú tim

Đề bài: Hãy tự chọn trò chơi quen thuộc và thuyết minh về trò chơi đó ( trò chơi ú tim)

Trong xã hội xưa, khi mọi điều kiện về sinh hoạt, giải trí còn chưa phát triển thì trẻ em dân gian đã nghĩ ra rất nhiều trò chơi dân gian để cùng nhau chơi đùa mỗi khi rảnh rỗi. Những trò chơi tuy đơn giản nhưng mang đầy màu sắc sáng tạo, mà hơn hết là những trò chơi đều hết sức trong sáng, thể hiện được tâm hồn trẻ thơ của trẻ em xưa. Hơn nữa trong những khía cạnh nhất định, những trò chơi dân gian còn thể hiện được những nét đặc sắc về văn hóa, về phong tục tập quán của con người xưa. Một trong những trò chơi dân gian độc đáo được trẻ em yêu thích đó chính là trò chơi ú tim.

Trò chơi ú tim xuất hiện từ rất sớm trong đời sống sinh hoạt của người dân Việt Nam. Trò ú tim hay còn có một tên gọi khác là trò trốn tìm ( ở khu vực miền Bắc) và trò năm mươi năm mươi ( ở khu vực miền nam). Trong không gian nông nghiệp, nông thôn xưa, những đứa trẻ trong cùng một xã, một làng hoặc một địa phương thường có xu hướng tập chung, tụ tập lại để cùng nhau chơi vào buổi tối. Địa điểm tập trung thường là ở đầu đình, gốc đa, những nơi diễn ra sinh hoạt văn hóa của một cộng đồng.

Trò chơi ú tim thường được chơi thành từng nhóm, trong đó có một người sẽ bị mọi người bịt mắt lại bằng một tấm vải, một chiếc khăn, miễn sao người bị bịt mắt sẽ không nhìn thấy mọi người. Và trong một khoảng thời gian nhất định, đa số là thời gian trong vòng năm mươi giây người bị bịt mắt mới có thể cởi bỏ khăn vải, cũng trong thời gian ấy thì những người còn lại sẽ chạy đi tìm chỗ trú ẩn. Sau năm mươi giây, người đi tìm sẽ đi xung quanh khu vực mà họ chơi để tìm kiếm những những người khác. Những người bị tìm thấy sẽ bị loại bỏ khỏi cuộc chơi, nếu như toàn bộ người chơi bị tìm ra thì người đi tìm sẽ sống sót và người đầu tiên bị tìm thấy sẽ tiếp tục thay người đi tìm chơi tiếp.

Theo luật chơi thì người đầu tiên bị tìm thấy sẽ có khả năng trở thành người đi tìm tiếp theo, nếu sau đó không có người nào giải cứu cho mình, và khi người đầu tiên bị tìm thấy thì họ dù có ú tim người đi tìm thì cũng không có hiệu lực. Chỉ đến người thứ hai, thứ ba và những người sau đó bất ngờ chạy ra ú tim người tìm mà không bị họ phát hiện thì người đầu tiên bị tìm ra mới thoát cảnh đi tìm. Người đi tìm sẽ tiếp tục trò chơi mới và tìm người lại từ đầu.

Trò chơi ú tim thường được chơi vào buổi tối và trong không gian rộng, có nhiều chỗ ẩn nấp, vì khi trời tối những người đi ẩn mới không bị tìm ra bởi người đi tìm, trò chơi sẽ thú vị hơn rất nhiều nếu người đi tìm khó khăn trong việc tìm kiếm. Những người chơi cũng hào hứng hơn trong việc ẩn nấp, không để cho người tìm tìm ra vị trí mình đang ẩn. Ai cũng hi vọng mình là người cuối cùng bị tìm thấy, vì khi ấy khả năng đảo ngược tình thế rất cao. Và khi ú tim thành công người đi tìm thì coi như trò chơi u tim thành công.

Những người cùng chơi trò ú tim thường là những người cùng xóm , những người cùng trang lứa nên họ chơi vô cùng tự nhiên, vui vẻ. Thời gian vào mỗi buổi tối là là không gian riêng của những em nhỏ, đó là khoảng thời gian vui chơi lí thú nhất mà các em không bị quản thúc chặt chẽ của người lớn, không phải đi học, trông em hay làm những công việc nhà khác. Các em cùng nhau chơi rất vui vẻ, tuy có người thắng, kẻ thua nhưng chưa bao giờ xảy ra mâu thuẫn, bởi các em suy nghĩ rất đơn thuần, đây là trò chơi, và chỉ khi chơi thật sự, chơi hết mình thì mới có ý nghĩa.

Trò chơi dân gian ú tim tuy có từ rất lâu  đời nhưng nó vẫn tồn tại đến ngày nay, nội dung trò chơi về cơ bản không có gì thay đổi nhưng hình thức thì có sự thay đổi hài hước, phù hợp với các em hơn. Đó chính là trong khoảng thời gian người bị bịt mắt đợi mọi người đi trốn thì sẽ hát bài hát “năm mười mười năm hai mươi, hai năm, ba mươi….cho đến một trăm” khi đếm xong còn hát thêm một câu nữa là “Ông trời có mắt, đi bắt trẻ con cách xa ba bước, chết hết cả đàn” thì mới bắt đầu đi tìm.

Tuy nhiên, trò chơi ú tim chỉ tiếp tục được kế thừa ở những vùng nông thôn nghèo, khi các em thiếu thốn về vật chất hơn so với các bạn khác, đặc biệt là các em không biết nhiều về công nghệ thông tim. Và đó cũng chính là thực trạng đáng buồn hiện nay ở một số trẻ em thành phố. Các em được tiếp xúc sớm với công nghệ hiện đại, do vậy mà trở nên già dặn hơn lứa tuổi của mình, mất đi nét hồn nhiên ở trẻ thơ. Đáng buồn hơn là các em không biết đến những trò chơi dân gian như ú tim, thậm chí các em còn có tư tưởng chỉ có trẻ con nông thôn mới them chơi những trò ấy, trong khi các em vẫn ở độ tuổi của trẻ con. Hi vọng, những trò chơi dân gian thú vị, giàu bản sắc như ú tim sẽ được nhiều người biết đến hơn, để cứu vãn tuổi thơ đang bị công nghệ hóa của các em như hiện nay.

Coi thêm ở :
Thuyết minh về trò chơi dân gian ú tim

Thuyết minh về trò chơi dân gian thả diều

Đề bài: Em hãy viết bài văn Thuyết minh về trò chơi dân gian thả diều.

Chẳng biết có từ khi nào nữa mà những trò chơi dân gian cứ dần dần rồi dần dần trở thành những trò chơi không thể thiếu đối với tất cả những đứa trẻ không chỉ ở thôn quê mà còn ở thành thị nữa. Những trò chơi dân gian chẳng phải  chỉ dành cho trẻ em mà nó dành cho tất cả mọi lứa tuổi. Nói đến những trò chơi dân gian ta không thể không nhắc đến một trò choi gắn liền đối với chúng ta đó là trờ chơi thả diều.

Diều được làm từ rất nhiều chất liệu khác nhau như bằng giấy, vải hay bằng ni lon. Nhưng được ưa chuộng nhất là ni lon bởi là bằng vật liệu này diều không những có thể làm được những màu sắc hình dạng rất đẹp mà còn rất biền sử dụng được thời gian lâu. Tùy vào màu sắc và hình dạng ta có thể chọn rất nhiều loại diều với những hình dạng phong phú, người chơi có thể chọn được tùy theo ý thích của mình. Đó là đối với những loại diều dùng để sản xuất bán cho người chơi không thể chuẩn bị được hay không làm được. Ưu điểm của những loại diều này chính là mẫu mã rất đẹp lại phong phú đa dạng rất hợp mắt người choi. Nhưng đối với những trẻ em ở quê thi lựa chọn số một vẫn là diều làm bằng giấy. Đối với loại diều này thì chất liêu làm ra rất đơn giản hợp với môi trường và sẵn có. Các em có thể tận dụng tất cả những giấy vở đã không dùng nữa để làm. Đối với những em nhỏ ở quê thì diều giấy không thể thiếu được khi mỗi mùa hè đến. Những cánh diều giấy nhẹ nhàng vút cao lên đến tận mây xanh khiến cho chúng ta như đang được bay lên cao cùng diều cùng với gió mấy thật thú vị biết nhường nào.

Thả diều là trò chơi dân gian dựa theo sức nâng của gió bởi thế để thực hiện được trò này trước tiên chúng ta cần phải chọn được địa điểm thích hợp.

Đó là một bãi đất rộng thoáng không vướng cây côi hay vật chắn nào đó xa lối đi và phải có gió nhẹ. Và chúng ta cũng đừng quên những người bạn để cùng nhau thả diều thì mới vui. Những cánh diều thi nhau bay lên không trùn sẽ tạo cho chúng ta những cảm giác thăng hoa rất sảng khoái. Khi có gió thả diều thì một người cầm diều một người thả dây hoặc chúng ta có thể làm cả hai việc đó được mà không cần ai khác. Khi thả diều ta chọn đúng hướng gió, khi có gió ta   ta thả diều thật nhẹ cho thật cân.

Cánh diều thường có hình trăng hoặc hình lưỡi liềm hay còn gọi là diều quạ. Khung diều thì thường được làm bằng cật tre bánh tẻ chuốt tròn và nối với nhau. Giu khung diều là một xương sống bằng tre cứng to bản to nhô ra bên Hai bên cánh diều cong lên tạo thành khung diều hình lưỡi liềm.

Chiều cong của cánh diều phải thật cân đối, khung diều phải chắc chắn và nhẹ. Diều được phất bằng giấy bản, bồi thành nhiều lớp bằng hồ dán. Sáo được xâu lại bằng một thanh tre đặt chéo góc ước chừng ba mươi độ với xương sống diều. Sáo thường làm bằng ống nứa, chia làm hai khoang, đầu gắn nắp hình vòm xẻ rãnh để gió lùa vào tạo nên âm thanh. Diều sáo trông đơn giản nhưng phải khéo tay mới làm được. Ngày trước chưa có loại dây dù, ni lon nên dây neo thường là dây mây, sợi nhỏ được đập dập, xoắn lại rồi thắt nối thành sợi dây dài chừng dăm bảy trăm mét. Chẳng may dây neo mà đứt, cánh diều theo gió cuốn xa, thật xa, mang theo cả niềm tiếc nuối của người thả diều.  Ngày nay, trước sự phát triển của nhịp sống hiện đại, các nhà máy, các dự án khu công nghiệp, dịch vụ thi nhau mọc lên. Những không gian thoáng đãng, lộng gió ở các vùng nông thôn đang dần bị thu hẹp, thú chơi thả diều cũng vì thế mà bị mai một. Bên cạnh đó, sự lấn át của các phương tiện giải trí hiện đại như: trò chơi điện tử, internet đã khiến cho không ít trẻ em không còn mặn mà với những cánh diều truyền thống. Song cánh diều ngày xưa của tuổi thơ hồn nhiên đầy ước vọng ngày thơ sẽ mãi vẹn nguyên trong tâm thức chẳng thể phai mờ.

Trò chơi thả diều sẽ mãi là một trò chơi là thú vui của nhiều người trong những ngày hè oi ả. Những ngày gió to ta đem diều ra thả chúng ta sẽ có những phút giây thật thú vị bình yên cùng cánh chim va một mảng xanh biêng biếc của bầu trời.

Xem bài nguyên mẫu tại :
Thuyết minh về trò chơi dân gian thả diều

Thuyết minh về một trò chơi dân gian Thả diều

Đề bài: Em hãy thuyết minh về một trò chơi dân gian- trò chơi thả diều.

 Việt Nam là một vùng quê của những truyền thống lịch sử, truyền thống văn hóa. Trong suốt quá trình phát triển của một nghìn năm lịch sử, trong đời sống sinh hoạt lâu đời của người dân, không chỉ những phong tục tập quán, những bản sắc văn hóa mang dấu ấn của Việt Nam được hình thành mà những trò chơi dân gian cũng vô cùng phong phú và độc đáo, những trò chơi này cũng góp phần thể hiện được những nét đẹp về văn hóa cũng như những nét đẹp về tinh thần, tâm hồn của con người Việt Nam. Một trong những trò chơi dân gian tiêu biểu mà ta có thể kể đến, đó chính là trò chơi thả diều.

Thả diều là một trò chơi dân gian độc đáo của con người Việt Nam, trò chơi này được hình thành trong quá trình sinh hoạt và lao động của người Việt Nam. Xuất hiện từ rất sớm và trò chơi độc đáo này vẫn được duy trì và phát triển cho đến tận ngày hôm nay. Khi xưa, cùng với nhịp độ của cuộc sống sinh hoạt thường ngày, ông cha ta không chỉ lo lao động, làm ăn sinh sống mà còn rất chú trọng đến đời sống tinh thần của mình, mà cụ thể nhất có thể kể đến, đó chính lá sự sáng tạo các trò chơi dân gian, một trong số đó là thả diều. Đây là cách thức giải trí độc đáo của ông cha cha sau mỗi giờ lao động đầy mệt mỏi, là cách lấy lại sức lực sau những lo toan của cuộc sống, của áp lực cơm – áo – gạo –tiền.

Thả diều là trò chơi mà trong đó người chơi sẽ dựa vào sức gió của tự nhiên, đưa những cánh diều bay lên cao, sự kết nối của người chơi đối với con diều là thông qua một sợi dây dù đủ dài để đưa con diều bay lên tận trời xanh. Sợi dây sẽ giúp con người điều khiển con diều của mình bay đến độ cao nào hay bay đến nơi nào mình mong muốn. Khi thu diều lại thì người chơi cũng cuộn từ từ sợi dây dù này lại, con diều sẽ gần mặt đất hơn, và cuối cùng sẽ hạ cánh để được người chơi xếp lại, mang về nhà. Nguyên lí sử dụng của các con diều này là dựa váo sức gió. Vì vậy mà hôm nào trời không có gió thì không thể chơi thả diều.

Nhưng nếu trời có gió nhưng người chơi không có kĩ năng thả, không biết cách đưa con diều bay ngược chiều gió để lên không trung thì con diều cũng không bay được như mong muốn của chúng ta.Về cấu tạo của chiếc diều thì bao gồm phần khung diều, thường thì những phần khung diều này sẽ được làm bằng tre hoặc bằng gỗ, đây là phần chống đỡ cho con diều, giúp con diều có những hình dáng nhất định và có thể bay lên. Những chiếc tre hay gỗ dùng để làm khung diều này phải thật mảnh, dẻo dai bởi nếu quá nặng, to thì sẽ làm cho con diều trở nên nặng nề, từ đó khó có thể bay lên, hoặc bay được nhưng cũng không cao. Còn nếu như phần khung này có mềm, không có độ dẻo dai thì khi có gió lớn thì con diều sẽ bị gió thổi làm cho gãy khung.

Bộ phận thứ hai của diều đó là phần nguyên liệu phụ để trang trí cho con diều cũng là bộ phận giúp con diều có thể đón được gió và bay lên cao. Thông thường, phần áo diều này thường được làm bằng giấy báo, vải mỏng hoặc có thể bằn ni lông. Ngày nay, sự phát triển của đời sống tinh thần đã đòi hỏi tính thẩm mĩ cao hơn, do đó mà những con diều được trang trí với những màu sắc vô cùng bắt mắt, hình dáng con thuyền cũng được chế tạo thành nhiều kiểu khác nhau, có thể là diều hình con chim, con bươm bướm, chim phượng hoàng… Bộ phận không thể thiếu đó chính là dây dù. Dây dù buộc vào con diều để những người chơi có thể điều khiển con diều, nâng lên hay hạ xuống theo ý thích của mình, dây dù có thể làm bằng những sợi dây gai mỏng nhưng có độ bền cao, độ dài của dây này cũng từ tám đến mười mét.

Những con diều thường được mang đi thả vào những buổi chiều có gió, nhưng gió này chỉ vừa đủ để diều bay lên, không quá lớn, bởi nếu vậy con diều sẽ bị gió thổi cuốn đi mất. Thời điểm người ta đi thả diều đông nhất, đó chính là tầm chiều tà, vì lúc này thời tiết sẽ rất mát mẻ, lại có gió. Đặc biệt ở những vùng nông thôn, cứ buổi chiều đến là mọi người sẽ tụ tập nhau lại đến một khu đất trống, hút gió để cùng nhau thả diều. hình ảnh những cậu bé chăn trâu thổi sáo, thả diều có lẽ đã quen thuộc đối với người dân Việt Nam. Sự sáng tạo của con người là không có giới hạn, cùng là con diều dùng để thả nhưng người ta có thể tạo cho nó rất nhiều màu sắc, hình dáng, thậm chí những con diều này còn phát ra những âm thanh du dương, êm ái. Con diều này được người ta gọi là diều sáo, theo đó thì những chiếc sáo nhỏ được thiết kế đặc biệt sẽ gắn lên thân của mỗi con diều. Để khi diều bay lên cao, có gió thì những con diều này sẽ tự động phát ra tiếng sáo.

Trò chơi thả diều là một trò chơi dân gian đã có từ rất lâu đời, người ta có thể chơi thả diều vào những lúc rảnh rỗi, giúp giải tỏa những căng thẳng sau những giờ làm việc mệt mỏi. Đặc biệt, ngày nay diều vẫn thu hút đông đảo sự yêu thích của rất nhiều người, hàng năm vẫn có rất nhiều các hội thi thả diều lớn được tổ chức, được rấ nhiều người lựa chọn, tham gia.

Coi thêm tại :
Thuyết minh về một trò chơi dân gian Thả diều

Thuyết minh về cho chơi kéo co

Trò chơi dân gian có nhiều thể loại phù hợp với các sở thích ,cá tính khác nhau của
nhiều đối tượng người chơi như sôi nổi.điềm đạm hay trầm tĩnh.Mỗi trò chơi có một quy
luật riêng,mang những sắc thái khác nhau khiến trẻ em chơi suốt ngày mà không
chán.Trong số đó trò chơi dân gian suất hiện từ lâu đời dược mọi người vô cùng yêu thích
là trò chơi kéo co.
Tục kéo co ở mỗi nơi có những lối chơi khác nhau nhưng bao giờ số người cũng
chia làm hai phe,mỗi phe dùng sức mạnh để kéo cho được bên kia về phía mình là
thắng.có khi cả hai bên là nam hoặc nữ,dân làng thường chọn trai chưa vợ gái chưa chồng
Có một cột trụ để ở giữa sân chơi có một dây thừng để kéo.khi trọng tài thổi còi
báo hiệu thì hai bên cùng ra sức kéo cho bằng được đội bên kia về phía mình.Bên nào mà
có người ngoài vào kéo hộ thì bên đấy thua
Em thấy trò chơi này cũng rất bổ ích vì trò chơi này thể hiệ tính đoàn kết của mọi
người nên em rất thích trò chơi này
Bài làm 2
Tục kéo co ở mỗi nơi có những lối chơi khác nhau, nhưng bao giờ số người chơi
cũng chia làm hai phe, mỗi phe cùng dùng sức mạnh để kéo cho được bên kia ngã về phía
mình. Có khi cả hai bên đều là nam, có khi bên nam, bên nữ. Trong trường hợp bên nam
bên nữ, dân làng thường chọn những trai gái chưa vợ chưa chồng. Một cột trụ để ở giữa
sân chơi, có dây thừng buộc dài hay dây song, dây tre hoặc cây tre, thường dài khoảng
20m căng đều ra hai phía, hai bên xúm nhau nắm lấy dây thừng để kéo. Một vị chức sắc
hay bô lão cầm trịch ra hiệu lệnh. Hai bên ra sức kéo, sao cho cột trụ kéo về bên mình là
thắng. Bên ngoài dân làng cổ vũ hai bên bằng tiếng "dô ta", "cố lên". Có nơi người ta lấy
tay người, sức người trực tiếp kéo co. Hai người đứng đầu hai bên nắm lấy tay nhau, còn
các người sau ôm bụng người trước mà kéo. Ðang giữa cuộc, một người bên nào bị đứt
dây là thua bên kia. Kéo co cũng kéo ba keo, bên nào thắng liền ba keo là bên ấy được.

Xem nguyên bài viết tại :
Thuyết minh về cho chơi kéo co

Dàn bài thuyết minh về Vũng Tàu

1. MB:
Giới thiệu danh lam thắng cảnh
Vũng Tàu là một trung tâm du lịch biển bốn mùa có ánh nắng mặt trời suốt 12 tháng
2.TB:
+ Xuất xứ: Người Bồ Đào Nha khi đến tưởng lầm là họ tìm ra vùng đất mới nên lấy tên là Thánh Giắc(Jacques)đặt cho vùng đất này. Vì vậy họ gọi Vũng Tàu là Cap Saint Jacques( mũi Thánh Giắc ). Từ chữ Cap Saint Jacques, người Pháp viết tắt là Âucp nên người Việt gọi là Vũng Tàu.
Thành phố có hai ngọn núi ko cao gọi là Núi Lớn và Núi Nhỏ.
+Trên Núi Lớn có hệ thống đài vô tuyến viễn thông và ra đa hiện đại .
+Trên Núi Nhỏ có ngọn Hải Đăng.
Có ba mặt tiếp giáp với biển nên VT co một cái thế tự nhiên như một cái vũng để tàu bè neo đậu an toàn, nên có tên gọi là VT.
VT co nhiều bãi biển đẹp:
+ Bãi Trước (Tầm Dương) nằm ngay trung tâm thành phố VT, doc theo đường Quang Trung sạch, đẹp và mới mở rộng. Từ bãi trước theo dường mới mở Hạ Long qua Bãi Dứa hoặc theo đường Hoàng Hoa Thám ta có thể đến Bãi sau.
+ Bãi Sau (Thùy Vân) ở phía Đông Nam thành phố VT, chạy dài trên 8 km từ chân núi nhỏ tới Cửa Lấp. Đây là bãi tắm đẹp, rộng và nổi tiếng của VN. Khách du lịch trong và ngoài nước thường đến tắm, nên Bãi Sau thường đông vui, náo nhiệt nhất trong các bãi biển ở VT. Nhà hàng ăn uống, bãi đậu xe an toàn, đội cấp cứu thủy nạn có trách nhiệm cao và chuyên môn giỏi.
+ Bãi Nghinh Phong(Ô quán) có nghĩa là "đón gió" có hướng cực nam của thành phố, gần bãi Dứa. Bãi tắm hẹp , nước lúc nào cũng sạch, sóng gió dồn dập, ba phía vách đá cheo leo, kế tiếp với mũi Nghinh Phong hùng vĩ nhô ra biển. Đây là nơi hẹn hò của những du khách có thú vui câu cá và ưa mạo hiểm.
+ Bãi Dứa nằm khoảng giữa Bãi Trước và Bãi Sau, bên chân núi nhỏ, gần mũi Nghinh phong. Trước kia có nhiều cây dứa gai mọc xanh bên bờ đá nên gọi là Bãi Dứa. Tắm biển ở đây sóng êm, an toàn. Từ đây đi thăm khu tượng Chúa Kitô và pháo đài trên núi nhỏ.
+ Bãi Dâu nằm ven Núi Lớn, cách bãi Trước 3km. Bãi hẹp, nông, sóng rất êm. Bãi này có nhiều người thích tắm do yên tĩnh và sạch đẹp.
3.KB:
VT quả là một danh lam thắng cảnh có nhiều triển vọng của đất nước ta.
Ta tự hào và yêu quý quê hương VN của chúng ta.

Coi nguyên bài viết ở :
Dàn bài thuyết minh về Vũng Tàu

Giới thiệu về Côn Sơn Kiếp Bạc

Lễ hội Côn Sơn-Kiếp Bạc năm 2010 sẽ được tổ chức từ ngày 28/2 đến ngày 2/3 (tức ngày 15 đến ngày 17 tháng Giêng âm lịch) và tưởng niệm 676 năm ngày viên tịch của Đệ tam tổ Huyền Quang tôn giả.

Lễ hội sẽ có 2 phần. Phần lễ gồm Lễ tế tại đền thờ Anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi (ngày 15 tháng Giêng); Lễ khai mạc hội xuân Côn Sơn-Kiếp Bạc năm 2010, lễ dâng hương, lễ rước nước, lễ mộc dục (ngày 16 tháng Giêng); Lễ Tế trời đất trên Ngũ nhạc linh từ, lễ cúng đàn Mông sơn thí thực (ngày 17 tháng Giêng).

Phần hội được tổ chức nhiều trò chơi dân gian, biểu diễn nghệ thuật, thi đấu thể thao (vật, đu tiên, cờ người, múa rối, hát chèo, hát quan họ,…).

Quần thể di tích Côn Sơn-Kiếp Bạc

Côn Sơn, Kiếp Bạc là hai di tích lịch sử đặc biệt quan trọng của quốc gia. Thời Trần khu di tích thuộc huyện Phượng Sơn, lộ Lạng Giang, thời Lê đổi thành huyện Phượng Nhỡn, thuộc thừa tuyên Bắc Giang, sau là trấn Kinh Bắc. Khu di tích Côn Sơn-Kiếp Bạc nay thuộc huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương cách Hà Nội khoảng 70km.

Khu di tích danh thắng Côn Sơn bao gồm cả núi Kỳ Lân và núi Ngũ Nhạc liền kề, là một trong ba trung tâm của thiền phái Trúc Lâm vào thời Trần (Côn Sơn-Yên Tử-Quỳnh Lâm); Đền Kiếp Bạc tựa lưng vào núi Trán Rồng, trước mặt là sông Lục Đầu. Côn Sơn-Kiếp Bạc lại tiếp giáp với dãy núi Phượng Hoàng (địa phận 2 xã Cộng Hòa và Văn An) và núi Rùa (phía tây bắc), tạo thành một vùng đất quần tụ đủ tứ linh, ngũ nhạc, lục đầu giang. Đó là sự sắp đặt kỳ diệu của tạo hóa đối với khu vực di tích danh thắng Côn Sơn-Kiếp Bạc-Phượng Hoàng với sông núi huyện Chí Linh.

Đây là vùng đất lịch sử mãi còn âm vang những chiến công lẫy lừng qua nhiều thời đại, đặc biệt là trong ba lần quân dân thời Trần đánh thắng quân xâm lược Nguyên Mông thế kỷ 13 và trong cuộc kháng chiến 10 năm của nghĩa quân Lam Sơn chống quân Minh ở thế kỷ 15. Đây là cũng là vùng danh sơn huyền thoại, với những thắng cảnh tuyệt vời, những di tích cổ kính, gắn liền với thân thế, sự nghiệp của Trần Hưng Đạo và Nguyễn Trãi, hai vị anh hùng dân tộc kiệt xuất đã làm rạng rỡ non sông đất nước, cùng với nhiều danh nhân văn hóa của dân tộc như Trần Nguyên Đán, Pháp Loa, Huyền Quang.

Quần thể khu di tích Côn Sơn-Kiếp Bạc được xếp hạng quốc gia năm 1962 và xếp hạng đặc biệt quan trọng vào năm 1994.

Khu di tích Côn Sơn

Khu di tích danh thắng Côn Sơn có vị trí và tầm quan trọng đặc biệt. Ở đây, văn hóa Phật giáo, Nho giáo và Lão giáo cùng tồn tại và phát triển qua nhiều thế kỷ, nhưng tất cả đều thấm đẫm bản sắc văn hóa Việt, đều để lại dấu ấn qua mỗi công trình xây dựng, qua từng chi tiết kiến trúc, chạm khắc, qua các bia đá, tượng thờ, hoành phi, câu đối; qua văn hóa Lý-Trần, Lê-Nguyễn và ở các tầng văn hóa dưới lòng đất khi khai quật khảo cổ học.

Di sản văn hóa phi vật thể quý giá ở Côn Sơn chứa đựng trong sách vở, trong các truyền thuyết còn lưu, trong các nghi thức cúng tế, trong các hoạt động lễ hội vô cùng phong phú.

Cũng hiếm ở đâu như ở Côn Sơn lại có nhiều trí thức, văn nhân, những nhà văn hóa đến thăm, cảm hứng và sáng tạo như ở Côn Sơn. Đây thực sự đã là nơi vân du, ẩn dật và tu tâm dưỡng tính của các bậc danh nhân, tiêu biểu cho tâm hồn, khí phách, tinh hoa văn hóa Việt Nam ở nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau, cũng như của bao tao nhân mặc khách.

Trần Nguyên Đán - quan Đại tư đồ phụ chính, nhà thơ, nhà lịch pháp lớn thời Hậu Trần đã về Côn Sơn dựng Thanh Hư Động để lui nghỉ những năm tháng cuối đời. Thời Lê sơ, Anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Trãi đã nhiều lần, nhiều năm sống, gắn bó chan hòa cùng thiên nhiên, tạo vật ở Côn Sơn - "núi nhà," tìm thấy nơi đây bạn tri âm tri kỷ và nguồn thi hứng dạt dào. Lê Thánh Tông, vị minh quân và là Tao Đàn nguyên súy (thời Lê sơ), Thánh thơ Cao Bá Quát (thời Nguyễn)... đều đã đến đây tìm lại dấu vết Ức Trai, vãng cảnh, làm thơ, để lại những thi phẩm giá trị.

Tháng 2/1965, Hồ Chủ tịch về thăm Côn Sơn. Người đã lên thăm Thạch Bàn, Thanh Hư động và đọc văn bia trước cửa chùa Hun, bằng sự trân trọng thiêng liêng và niềm giao cảm đặc biệt đối với cổ nhân.

Ngày nay, Khu di tích Côn Sơn còn lưu giữ được những dấu tích văn hóa thời Trần và các giai đoạn lịch sử kế tiếp.
Chùa Côn Sơn

Chùa có tên chữ là Thiên Tư Phúc tự, hay còn gọi là chùa Hun, tọa lạc ở ngay dưới chân núi Côn Sơn, có từ trước thời Trần. Vào đời Lê, chùa được trùng tu và mở rộng rất nguy nga đồ sộ. Trải qua biến thiên về lịch sử và thời gian, chùa Côn Sơn ngày nay chỉ còn là một ngôi chùa nhỏ ẩn mình dưới tán lá xanh của các cây cổ thụ.

Chùa được kiến trúc theo kiểu chữ công gồm Tiền đường, Thiêu hương, Thượng điện. Thượng điện thờ Phật, có những tượng Phật từ thời Lê cao 3m. Phía sau chùa là nhà Tổ, có tượng Trúc Lâm tam tổ (Trần Nhân Tông - Pháp Loa - Huyền Quang), tượng ông bà Trần Nguyên Đán, hai pho tượng Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ.

Sân chùa có cây đại 600 tuổi, 4 nhà bia, đặc biệt là bia "Thanh Hư động" có từ thời Long Khánh (1373-1377) với nét chữ của vua Trần Duệ Tông và bia hình lục lăng, "Côn Sơn thiện tư bi phúc tự" đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc khi Người về thăm di tích này(15/2/1965).

Giếng Ngọc

Giếng Ngọc nằm ở sườn núi Kỳ Lân, bên phải là lối lên Bàn Cờ Tiên, phía dưới chân Đăng Minh Bảo Tháp. Tương truyền đây là giếng nước do Thiền sư Huyền Quang được thần linh báo mộng ban cho chùa nguồn nước quý. Nước giếng trong vắt, xanh mát quanh năm, uống vào thấy khoan khoái dễ chịu. Từ đó có tên là Giếng Ngọc và nước ở giếng được các sư dùng làm nước cúng lễ của chùa.

Bàn Cờ Tiên

Từ chùa Côn Sơn leo khoảng 600 bậc đá là đến đỉnh núi Côn Sơn (cao 200m). Đỉnh Côn Sơn là một khu đất bằng phẳng, tại đây có một phiến đá khá rộng, tục gọi là Bàn Cờ Tiên. Hiện nay Bàn Cờ Tiên có dựng nhà bia theo kiểu Vọng Lâu đình, hai tầng cổ các tám mái. Đứng từ đây, du khách có thể nhìn bao quát cả một vùng rộng lớn.

Thạch Bàn

Bên suối Côn Sơn có một phiến đá gọi là Thạch Bàn, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh dừng chân nghỉ khi Người tới thăm di tích này. Từ chân núi đi theo lối mòn có kê đá xuống phía chân núi có một tảng đá lớn, mặt phẳng và nhẵn nằm kề ven suối gọi là Thạch Bàn lớn. Tương truyền khi xưa Nguyễn Trãi lấy làm "chiếu thảm" nghỉ ngơi, ngắm cảnh, làm thơ và suy tư việc nước.

Khu di tích Kiếp Bạc

Kiếp Bạc là một địa danh lừng lẫy bên Lục Đầu Giang, cách Côn Sơn chừng 5 cây số. Kiếp Bạc có thế "rồng vươn, hổ phục," có "tứ đức, tứ linh." Thế sông núi hiểm mà hài hòa, hùng vĩ khoáng đạt mà trang nhã.

Tại đây, hội nước bốn dòng sông từ thượng nguồn dồn về, chảy vào sông Thái Bình và sông Kinh Thầy, mang phù sa màu mỡ tốt tươi về xuôi bồi đắp. Bốn dòng sông ấy, ngoài các tên quen thuộc, đều có thêm một tên Hán tự có chữ "đức" đứng sau như sông Đuống (Thiên Đức), sông Cầu tức sông Như Nguyệt (Nguyệt Đức), sông Thương (Minh Đức), Sông Lục Nam (Nhật Đức); dòng chính về xuôi thì có tên là sông Thái Bình. Vì người xưa coi Lục Đầu Giang là nơi hợp lưu của 4 dòng đức lớn trong vũ trụ mang thái bình tức là mang yên ổn thịnh vượng về cho trăm họ, muôn dân.

Kiếp Bạc có đường thủy, đường bộ rất thuận tiện. Từ Kiếp Bạc có thể thuận tới Thăng Long, lên ngược, về xuôi, ra biển đều dễ dàng, nên đây là vị trí chiến lược, "quyết chiến điểm" mà cả quân dân Đại Việt cũng như quân xâm lược phương Bắc đều cần chiếm giữ trong các cuộc chiến tranh.

Khu di tích lịch sử Kiếp Bạc có một di tích trung tâm, lớn nhất, linh thiêng nhất là ngôi đền cổ thờ Đức Thánh Trần-Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn - vị anh hùng dân tộc, nhà quân sự kiệt xuất, vị tổng chỉ huy quân dân Đại Việt trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên Mông

Xem bài nguyên mẫu tại :
Giới thiệu về Côn Sơn Kiếp Bạc